Skip to main content

Dự thảo án lệ số 13

Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Vô ý làm chết người”

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm và được công bố theo Quyết định số /QĐ-CA ngày tháng năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2017/HS-ST ngày 23-02-2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về vụ án “Vô ý làm chết người” đối với bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh ngày 07/7/1981; trú tại xóm A, xã B, huyện C, tỉnh Đắc Lắc; nghề nghiệp: làm rẫy; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Lê Thị L; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: năm 1999 bị Toà án nhân dân huyện D, Hà Tĩnh xử phạt 6 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản, ngày 14/4/2000 đã chấp hành xong bản án; bị bắt tạm giam từ ngày 12/6/2013.*1

Người bị hại: anh Nguyễn Sỹ L (đã chết).

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 9, 10 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung án lệ:

- Tình huống án lệ:

Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn, cùng một phe trong lúc đánh nhau; bị cáo khua súng chống đỡ sự tấn công của người khác, trong lúc chống đỡ bị cáo vô tình làm súng nổ mà không có ý thức nhằm vào người khác để bắn. Bị hại chết là ngoài ý muốn chủ quan bị cáo.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội vô ý làm chết người” mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội giết người”.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự năm 1999 (tương ứng với khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015);

Từ khóa của án lệ:

“Vô ý làm chết người”; “Giết người”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Văn H bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Do có sự bất đồng giữa nhóm Nguyễn Viết H và nhóm Mai Đức H, Nguyễn Viết L trong việc khai thác quặng Măng gan tại Vực Đ, xã E, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh nên hai bên phát sinh mâu thuẫn, nghi ngờ lẫn nhau. Khoảng 14 giờ, ngày 08/01/2013, nghe tin có xe ô tô vào khu vực Vực Đ chở quặng Măng gan, Nguyễn Văn H (em trai Nguyễn Viết H) đi xe máy vào xem quặng có bị mất không. Trên đường đi gặp Nguyễn Sỹ S (là cháu của Nguyễn Văn H) đi xe máy chở bố là Nguyễn Sỹ L (là anh rể của Nguyễn Văn H) nên Nguyễn Văn H đã rủ cùng đi. Khi vào đến bãi quặng thấy 3 xe ô tô chở quặng đi ra, Nguyễn Sỹ S chặn 3 xe ô tô lại hỏi và được biết xe chở quặng cho anh Nguyễn Viết H. Thấy xe ô tô bị chặn lại, anh Bùi Quốc N (là người làm công cho Nguyễn Viết H) đi xe máy lại, vừa đến nơi thì bị Nguyễn Sỹ S đấm vào mặt và đe dọa từ nay không được làm quặng cho anh Nguyễn Viết H nữa. Vừa lúc đó, Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô nhãn hiệu FORD ESCAPE biển kiểm soát 52X-4239 chở anh Nguyễn Văn N, Nguyễn Văn V đi tới, Nguyễn Viết H xuống xe can thiệp để 3 xe ô tô chở quặng đi. Lúc này, Nguyễn Sỹ S lấy xe máy của anh Nhật chở Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ L đi vào lán anh Nguyễn Viết H, còn Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô vào Xí nghiệp khai thác quặng Măng gan chơi. Khi Nguyễn Sỹ S, Nguyễn Sỹ L, Nguyễn Văn H đi xe máy tới, biết Nguyễn Văn H là em của Nguyễn Viết H, nên anh Nguyễn Viết H sợ bỏ chạy lên núi. Nguyễn Sỹ S đi vào lán của anh Nguyễn Viết H lục soát lấy một khẩu súng thể thao của anh Nguyễn Viết H (trong súng có 01 viên đạn) đưa cho Nguyễn Văn H (lúc này trong lán chỉ có anh Nguyễn Thế V và chị Bùi Thị N). Lấy được súng, Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ L và Nguyễn Sỹ S đi về, còn Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô vào Xí nghiệp khai thác quặng Măng gan chơi một lúc thì chở Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn V về. Trên đường về Nguyễn Viết H gặp Nguyễn Viết L cùng một số người đang bốc gỗ lên xe ô tô tải tại đê cây tràm, Nguyễn Viết H cũng dừng xe gọi “Nguyễn Viết L ơi”. Lúc này, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn V trên xe Nguyễn Viết H xuống nhặt đá để đánh Nguyễn Viết L. Nguyễn Viết L hoảng sợ bỏ chạy lên núi và điện thoại cho Nguyễn Viết N là cháu và một số người khác nói là bị Nguyễn Viết H chặn đánh, đưa ô tô vào chở Nguyễn Viết L về. Một lúc sau Nguyễn Viết L quay trở lại nơi bốc gỗ thì không thấy xe Nguyễn Viết H nữa, nên Nguyễn Viết L lấy khẩu súng hơi và con dao trên xe đi bộ về. Nhận điện thoại của Nguyễn Viết L, Nguyễn Viết N đến nhà Nguyễn Viết L lấy xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI biển kiểm soát 37A-0167 điều khiển xe đi vào Vực Đ thì gặp Nguyễn Viết T, Nguyễn Viết N nói với Nguyễn Viết T “Chú Nguyễn Viết L điện bảo bị Nguyễn Viết H chặn đánh, lấy xe vào đưa chú về”. Nghe vậy Nguyễn Viết T lên xe ô tô và hỏi “Đã chuẩn bị gì chưa”, Nguyễn Viết N trả lời “Chưa”. Nguyễn Viết T chở Nguyễn Viết N đi đến nhà bà Nguyễn Thị C và bảo vào mượn dao, Nguyễn Viết N xuống xe vào nhà gặp bà Nguyễn Thị C nói mượn mấy con dao về phát đường nên bà Nguyễn Thị C đã lấy 3 con dao để trong bao tải đưa cho Nguyễn Viết N, Nguyễn Viết N lấy dao mang lên xe ô tô. Nguyễn Viết T tiếp tục điều khiển xe ô tô đi vào Vực Đ thì gặp Nguyễn Viết H, Nguyễn Viết Q, Nguyễn Viết S, Nguyễn Văn T, Nguyễn Viết T dừng xe và nói Nguyễn Viết L bị Nguyễn Viết H chặn đánh, nghe vậy Hoàn cầm một ống tuýp nước, Nguyễn Viết N xuống lấy một đoạn tre rồi cùng mọi người lên xe ô tô. Nguyễn Viết T tiếp tục điều khiển xe ô tô đi đến gần Vực Đ thì gặp Nguyễn Viết L mang khẩu súng hơi và dao đi ra. Nguyễn Viết T dừng xe thì thấy Nguyễn Viết H điều khiển xe ô tô 52X-4239 đi tới nên Nguyễn Viết T điều khiển xe ô tô 37A-0167 đâm vào xe ô tô của Nguyễn Viết H. Thấy vậy Nguyễn Viết H ngồi trong xe điện thoại cho anh rể là Nguyễn Sỹ L biết, Nguyễn Sỹ L quay xe lại thì gặp Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ S nên cùng nhau đi xe máy trở lại Vực Đ. Khi thấy một số người đang đập phá xe ô tô của Nguyễn Viết H, Nguyễn Sỹ L cầm dao đi trước, Nguyễn Văn H cầm khẩu súng thể thao và Nguyễn Sỹ S đi sau. Khi Nguyễn Sỹ L cách xe ô tô 52X-4239 của Nguyễn Viết H khoảng 7 - 8m thì Nguyễn Văn T cầm dao chém nhau với Nguyễn Sỹ L, Nguyễn Sỹ L chém một nhát trúng vào trán Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T chém một nhát trúng vào cánh tay trái của Nguyễn Sỹ L. Nghe Nguyễn Văn T kêu “Hắn chém em rồi”, thì Nguyễn Viết L cầm dao chạy tới chém một nhát trúng vào tay anh Nguyễn Sỹ L. Khi đó Nguyễn Viết N thấy Nguyễn Văn H đi phía sau cách anh Nguyễn Sỹ L khoảng 8 - 10m nên cầm gậy tre chạy lên để đánh Nguyễn Văn H, khi chạy lại cách Nguyễn Văn H khoảng 3m - 4m, Nguyễn Viết N dơ gậy lên để đánh nNguyễn Văn H thấy Nguyễn Văn H cầm khẩu súng thể thao, nòng hướng về phía mình nên Nguyễn Viết N sợ bỏ chạy. Nguyễn Văn H nổ súng nNguyễn Văn H đạn trúng vào người anh Nguyễn Sỹ L khi anh Nguyễn Sỹ L đứng phía trên dốc, lưng quay về phía Nguyễn Văn H. Lúc đó, Nguyễn Viết N chạy lại thấy anh Nguyễn Sỹ L bị ngã đã dùng gậy tre đập 2 cái, một cái trúng xuống đất, một cái trúng ngực anh Nguyễn Sỹ L. Hậu quả anh Nguyễn Sỹ L bị chết do đa chấn thương; xe ô tô BKS 52X-4239 của Nguyễn Viết H bị hư hỏng, trị giá thiệt hại là 94.048.976 đồng. Sau khi anh Nguyễn Sỹ L bị tử vong, cơ quan điều tra đã tổ chức khám nghiệm tử thi, giải phẫu và tìm thấy đầu đạn thể thao đường kính 5.54mm trong người anh Nguyễn Sỹ L. Quá trình khám nghiệm tử thi Nguyễn Văn H có mặt để xem, Nguyễn Văn H biết mình đã bắn vào người anh Nguyễn Sỹ L nên về mang súng đi đến cầu Cửa Trại thuộc xã Thanh Lộc, huyện D đập súng vào thành cầu làm súng gãy rồi vứt xuống sông. Theo lời khai của Nguyễn Văn H, cơ quan điều tra đã truy tìm được nòng súng thể thao có số B4271 dưới lòng sông tại cầu Cửa Trại.

Tại bản kết luận giám định pháp y số 02/PC54 ngày 08/01/2013 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Nạn nhân hai môi thâm tím, gãy răng số 2 hàm dưới bên phải. Vết bầm tụ máu kích thước 30cm x 0,7cm, kéo dài từ núm vú trái đến xương đòn phải, gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5 bên trái. Mặt ngoài 1/3 cẳng tay phải có vết thương 10cm x 4cm bờ mép sắc gọn, đứt cơ. Mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái có vết thương 5cm x 3cm bờ mép sắc gọn, đứt cơ. Vùng lưng trái, cách đường giữa sống lưng 4cm, cách thắt lưng 6cm về phía trên có vết thương hình tròn đường kính 0,4cm. Mặt đùi trái có vết bầm tụ máu kích thước 30cm x 0,4cm. Giải phẫu tử thi phát hiện vết thương làm gãy xương sườn bên trái dẫn đến vỡ mõm tim, trong trung thất chứa nhiều máu cục, máu loãng màu đen. Vết thương vùng lưng trái qua cơ lưng, xuyên thủng ruột non, bờ cong nhỏ dạ dày. Trong ổ bụng chứa nhiều máu cục, máu loãng màu nâu đen. Tại cung trước khoang liên sườn 6, 7 tìm thấy 01 đầu đạn có đường kính 5.54mm.

Nguyên nhân chết: Nạn nhân bị đa vết thương trong đó chấn thương vùng ngực làm gãy cung trước xương sườn 3, 4, 5 bên trái dẫn đến vỡ mõm tim là nguyên nhân chính dẫn đến chết.

Kết luận giám định liên quan đến khẩu súng:

- Bản kết luận giám định số 1056 ngày 18/4/2013, của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận: Đầu đạn thu trong người nạn nhân bằng chì, đường kính 5.54mm, nòng súng gửi giám định là nòng súng thể thao do Liên Xô sản xuất, bắn đạn thể thao cỡ 5.6mm. Do chỉ thu được nòng súng nên không thể bắn thực nghiệm lấy đầu đạn để so sánh với đầu đạn trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L.

- Thông báo kết quả giám định số 72/PC54, ngày 23/4/2013, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Khẩu súng ký hiệu Slavia 631 (súng của Nguyễn Viết L) không phải là khẩu súng bắn ra đầu đạn thu được trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L

- Công văn số 605, ngày 08/5/2013, của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh trả lời công văn số 199, ngày 30/7/2013, của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: Nòng súng số hiệu B4271 hiện nay bị cong, lòng nòng súng bị han rỉ nặng. Việc sữa chữa, phục hồi để bắn thu đầu đạn phục vụ giám định là không thể thực hiện được.

- Công văn số 315, ngày 05/8/2013, của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hà Tĩnh trả lời Công văn số 822, ngày 30/7/2013, của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Hà Tĩnh có nội dung: Căn cứ vào nguyên lý hoạt động, chuyển động của đầu đạn và tính năng tác dụng của khẩu súng nêu trong công văn thì vị trí phát hỏa cách nạn nhân 8-10m là phù hợp thực tế.

- Ngày 11/11/2015, Viện khoa học hình sự Bộ Công an có Công văn số 2035 trả lời theo yêu cầu của Tòa án cấp cao tại Hà Nội với nội dung: Nòng súng số hiệu B4271 là của khẩu súng thể thao TO3 8M, bắn đầu đạn thể thao cỡ 5.6mm, tức nòng súng cỡ 5.6mm. Đầu đạn thu được trong người Nguyễn Sỹ L là của loại đạn thể thao cỡ 5.6mm, sau khi bắn qua nòng súng đường kính còn 5.54mm là hoàn toàn hợp lý. Khẳng định nòng súng số hiệu B4271 của khẩu súng thể thao TO3 8M có thể bắn được đầu đạn đường kính 5.54mm thu trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L.

- Công văn trả lời số 799 ngày 18/5/2016 của Viện khoa học hình sự bộ Công an cho biết: Hiện tại bộ phận giám định súng, đạn của Viện chưa có phương tiện đo cường độ âm thanh để làm cơ sở tính khoảng cách có thể nghe thấy tiếng nổ của các loại súng. Với những lời khai của đối tượng Nguyễn Văn H và điều kiện, diển biến, không gian, thời gian xảy ra vụ án theo nội dung công văn; Viện khoa học hình sự không thể lấy đó làm căn cứ xác định tiếng “Tạch” cũng như khả năng (có hay không) nghe thấy tiếng súng nổ của những người đứng xung quanh Nguyễn Văn H.

- Kết luận giám định số 284/PC54 ngày 03/8/2016 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Bên trong nòng súng số hiệu B 4271 có 4 rãnh xoắn, xoắn sang phải.

Các bị cáo khác đã được xét xử tại Bản án hình sự phúc thẩm số 286/2015/HSPT ngày 28/12/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết tại Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2014/HSST ngày 01/7/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và Bản án hình sự phúc thẩm số 286/2015/HSPT ngày 28/12/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Tại bản cáo trạng số 32/CTr- KSĐT, ngày 24/8/2016 của VKSND tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo khoản 2 điều 93 BLHS.

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố thay đổi tội danh của cáo trạng đã truy tố, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân, tâm lý bị cáo trong quá trình phạm tội, từ đó đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H khoảng từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Vô ý làm chết người” theo khoản 1 điều 98 BLHS. Miễn xét về phần dân sự, vật chứng (vì đã được giải quyết) Xử buộc về án phí và quyền kháng cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định có mang súng trên người nNguyễn Văn H không sử dụng. Cũng tại phiên tòa Nguyễn Viết N khẳng định khi chạy lại để đánh Nguyễn Văn H thấy Nguyễn Văn H cầm súng hướng nòng về phía mình nên sợ và bỏ chạy lên đồi, Nguyễn Viết L thì thấy Nguyễn Văn H cầm súng khua chứ không rõ có bắn hay không. Tại hồ sơ một số người làm chứng cũng thừa nhận việc thấy Nguyễn Văn H cầm súng tại thời điểm xảy ra xô xát nNguyễn Văn H họ không nghe tiếng súng nổ cũng như không khẳng định được Nguyễn Văn H có bắn hay không. Bị cáo còn cho rằng do bị điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H ép cung và mớm cung nên đã khai không đúng sự thật.

Hội đồng xét xử thấy: Tại Biên bản ghi lời khai ngày 02/4/2013 bị cáo khai rõ: "Tôi dừng xe, cầm khẩu súng để chống đỡ những người này, tôi cầm súng khua ngang qua lại vừa đi thụt lùi để chống đỡ khỏi bị đánh... lúc vừa chống đỡ vừa lùi tôi có cầm vào cò súng thì tôi nghe súng nổ cái "tạch" tôi không biết vì sao súng nổ. Tôi cũng không biết trong súng có đạn hay không vì từ lúc Nguyễn Sỹ S đưa súng cho tôi cầm tôi cũng không kiểm tra trong súng có đạn hay không và tôi cũng không có đạn để bỏ vào dùng. Lúc đó tôi nghe súng kêu "tạch" thì những người đánh tôi vẫn xông vào đánh tôi...". Và tại Biên bản ghi lời khai ngày 04/4/2013 do Điều tra viên Trần Cảnh Lệ lấy lời khai thể hiện: "Còn tôi dùng khẩu súng (Nguyễn Sỹ S lấy trong lán anh Nguyễn Viết H) dơ lên khuơ đi khuơ lại để chống đỡ các nhát chém của anh Hoàn và anh Nguyễn Viết L và hai người đeo khẩu trang tôi không rõ tên. Đang khuơ súng thì tôi nghe một tiếng nổ "tạch" tôi xác định đó là tiếng súng nổ (súng tôi cầm trên tay) tôi vừa lùi vừa chống đỡ rồi tôi và Nguyễn Sỹ S chạy thoát được lên đồi... Khi khám nghe các anh công an nói có vết đạn, tôi nghĩ có lẽ vết đạn do súng mình cầm lúc nãy nổ. Tôi sợ liên quan nên tôi quay lại cổng Công ty Măng gan lấy khẩu súng lúc nãy tôi dấu ở đó rồi đi xe máy về đến cầu Cửa Trại, tôi đi đến giữa cầu đập súng vào thành cầu làm súng gãy báng súng và nòng súng rời ra, tôi vứt tất cả xuống dưới cầu rồi đi về nhà mẹ tôi". Tại Biên bản hỏi cung ngày 25/6/2013, có mặt Luật sư Mai Xuân Định và luật sư Dương Kim Nguyễn Sỹ S, Nguyễn Văn H khai: "Bị tấn công tôi cầm súng lên chống đỡ, tôi cầm súng bằng hai tay, tôi cầm ở đầu báng súng, nòng súng hướng về những đối tượng tấn công tôi, tôi khuơ ngang súng qua lại để chống đỡ. Khi tôi đang khuơ súng thì nghe tiếng súng "tạch".... Trong quá trình khám nghiệm tử thi tôi nghe cán bộ khám nghiệm nói anh Nguyễn Sỹ L bị chém và bắn. Khi nghe vậy, tôi nghĩ không biết có phải lúc nãy súng tôi nổ viên đạn trúng vào người anh Nguyễn Sỹ L hay không. Tôi vừa lo vừa sợ...".

Những lời khai trên của bị cáo Nguyễn Văn H ở tại các mốc thời gian khác nhau, hai Điều tra viên đã được phân công lấy lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H nhưng các lời khai đều thống nhất và phù hợp với diễn biến của vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo cho rằng quá trình lấy lời khai, điều tra viên đã mớm cung, ép cung, bày cho khai là không có cơ sở vì: Nguyễn Văn H là một người không mắc bệnh tật gì ảnh hưởng tới nhận thức, có hiểu biết về pháp luật nên không thể điều tra viên nói sao thì nghe và trình bày như vậy và ngay từ đầu Nguyễn Văn H đã cố tình che dấu hành vi của mình, ngày 11/3/2013 Cơ quan điều tra triệu tập vào làm việc, trong quá trình làm việc lúc đầu Nguyễn Văn H trình bày không có mặt tại hiện trường vụ án, chỉ khi có các người làm chứng, chứng minh sự có mặt của Nguyễn Văn H khi xảy ra đánh nhau tại hiện trường thì Nguyễn Văn H không thể chối cãi được nên mới khai nhận (điều tra viên có quá trình đấu tranh với Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H mới khai nhận nội dung có mặt tại hiện trường và có mang theo khẩu súng lấy ở trong lán của Nguyễn Viết H). Từ lời khai của Nguyễn Văn H vào ngày 03/4/2013 Cơ quan điều tra mới truy tìm được khẩu súng (phần nòng súng) sau khi Nguyễn Văn H đập gãy khẩu súng vứt xuống sông Cửa Trại xã Thanh Lộc, huyện D, tỉnh Hà Tĩnh. Nội dung lời khai của Nguyễn Văn H trước đây hoàn toàn phù hợp với diễn biến của vụ án xảy ra tại hiện trường và lời khai của người làm chứng, các bị cáo khác. Việc lấy lời khai hoàn toàn do Nguyễn Văn H trình bày, khi xảy ra vụ án điều tra viên không có mặt tại hiện trường nên không thể biết được nội dung diễn biến của sự việc để bày cho Nguyễn Văn H khai, việc lấy lời khai của Nguyễn Văn H không chỉ do một mình điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H tiến hành mà còn có điều tra viên Trần Cảnh Lệ, bên cạnh đó trong quá trình lấy lời khai còn có 02 luật sư bảo vệ quyền Nguyễn Viết L cho Nguyễn Văn H cùng tham gia. Trong quá trình Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình ngày 02/4/2013. Khi đó, Cơ quan CSĐT chưa áp dụng biện pháp ngăn chặn giam, giữ, đến ngày 12/6/2013 khởi tố bị can mới bắt tạm giam Nguyễn Văn H do đó không thể có việc ép cung, mớm cung được. Đặc biệt tại 07 bản khai, bản cung Nguyễn Văn H khai nhận hành vi phạm tội của mình trong đó có 01 bản điều tra viên Trần Cảnh Lệ ghi, còn 06 lời khai điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H ghi, trong đó có 01 bản có 02 luật sư tham gia, Luật sư Mai Xuân Định thuộc đoàn luật sư Hà Tĩnh, Luật sư Dương Kim Nguyễn Sỹ S thuộc đoàn luật sư Hà Nội do gia đình Nguyễn Văn H mời, nội dung trong các bản khai, bản cung phù hợp với nhau và đều khẳng định việc Nguyễn Văn H khai báo là khách quan, không bị bức cung, mớm cung. Nếu trong quá trình đánh nhau Nguyễn Văn H không sử dụng súng thì Nguyễn Văn H không thể có những hành vi che dấu sự có mặt của Nguyễn Văn H tại hiện trường vụ án, và không thể có hành vi đập gãy súng vứt xuống sông, đây là hành động nhằm tiêu hủy chứng cứ để trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật khi biết có đầu đạn trong người anh Nguyễn Sỹ L (Nguyễn Văn H chứng kiến việc khám nghiệm tử thi anh Nguyễn Sỹ L và biết anh Nguyễn Sỹ L bị bắn). Đối với việc Nguyễn Văn H thay đổi lời khai không thừa nhận là trong súng có đạn (Nguyễn Sỹ S đã kiểm tra trước lúc giao cho Nguyễn Văn H) và chỉ đeo súng trong quá trình đánh nhau chứ không đưa súng ra sử dụng, sau 02 tháng mới đập súng vứt xuống sông. Lời trình bày này không đúng thực tế vì mục đích của Nguyễn Văn H, Nguyễn Sỹ L, Nguyễn Sỹ S và một số người khác quay lại là khi nghe Nguyễn Viết H gọi điện bị một số người (Nguyễn Viết L, Nguyễn Viết N …) đập phá xe Nguyễn Viết H, việc cầm súng quay lại là nhằm đánh nhau với những người đập phá xe Nguyễn Viết H. Với mục đích quay lại để đánh nhau mà trên tay lại có súng, lại đang bị đánh liệu Nguyễn Văn H có thể không đưa súng ra sử dụng được không? Nếu Nguyễn Văn H không sử dụng súng thì làm sao khi phát hiện trong người anh Nguyễn Sỹ L có đầu đạn thì Nguyễn Văn H lại lẳng lặng đi lấy súng đập gãy vứt xuống sông nhằm mục đích phi tang. Cũng không thể có việc khi phát hiện (do xem khám nghiệm tử thi) thấy đầu đạn trong người anh Nguyễn Sỹ L thì mãi hai tháng sau mới lấy súng đập gãy vứt xuống sông, tâm lý của người phạm tội không thể xảy ra trường hợp như vậy. Việc kiểm tra súng xem có đạn hay không là hoàn toàn không có, trước đây Nguyễn Văn H và Nguyễn Sỹ S đều khai nhận không kiểm tra súng, chỉ sau khi đưa Nguyễn Văn H ra xét xử thì Nguyễn Văn H mới thay đổi lời khai, bản thân Nguyễn Sỹ S không biết gì về súng thì không thể kiểm tra có đạn hay không?

Mặt khác Anh Nguyễn Thế V đứng cạnh Nguyễn Sỹ S lúc Nguyễn Sỹ S lấy súng đã trình bày sau khi Nguyễn Sỹ S lấy súng xong đã đưa ngay cho Nguyễn Văn H mà không kiểm tra gì, Anh Mai Đức H khai là trong súng luôn luôn lắp sẵn một viên đạn, Luật sư Mai Xuân Định trình bày là không có việc ép cung hay mớm cung tại biên bản hỏi cung do Luật sư Định và Luật sư Dương Kim Nguyễn Sỹ S tham gia (tại biên bản hỏi cung này bị cáo Nguyễn Văn H hoàn toàn thừa nhận việc đã dùng súng …).

Việc Nguyễn Văn H thay đổi lời khai phù hợp các tình tiết với Nguyễn Sỹ S thay đổi lời khai là do sau khi nhận hồ sơ điều tra lại, ngày 23/4/2016 điều tra viên hỏi một bản cung về căn cước lai lịch. Ngày 04/5/2016 Nguyễn Sỹ S bị bắt tạm giam về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và được đưa vào tạm giam cùng phòng 2, nhà B1 với Nguyễn Văn H. Ngày 11/5/2016 Hỏi cung Nguyễn Văn H thì Nguyễn Văn H khai báo những tình tiết như trên, ngày 07/6/2016, lấy lời khai của Nguyễn Sỹ S thì Nguyễn Sỹ S cũng khai tình tiết giống với Nguyễn Văn H. Vấn đề này đã có báo cáo của Trại tạm giam cũng như các bị can bị giam cùng phòng với Nguyễn Sỹ S và Nguyễn Văn H thừa nhận Nguyễn Văn H thường xuyên nói chuyện với Nguyễn Sỹ S nhất là sau các buổi hỏi cung.

Nội dung thay đổi lời khai của Nguyễn Văn H cũng chỉ viện lý do là do điều tra viên Đậu Duy Nguyễn Văn H bày cho khai, mà không đưa ra được tình tiết gì mới, qua đó cho thấy việc thay đổi lời khai và kêu oan của Nguyễn Văn H là không có cơ sở. Việc bị cáo Nguyễn Văn H chối tội là hành vi quanh co, bao biện nhằm phủ nhận về tội phạm mà bị cáo đã thực hiện. Tại hiện trường, một số nhân chứng khai có thấy bị cáo Quang ôm một khẩu súng. Bị cáo Quang cũng đã thừa nhận bị cáo có thấy một khẩu súng ở bên đường và biết là của Nguyễn Viết L nên đã đem về nhà cất dấu, sau đó Quang khai báo với cơ quan điều tra và đã được thu giữ. Lời khai của bị cáo Nguyễn Viết L và Quang hoàn toàn phù hợp với diễn biến vụ án và vật chứng đã được thu giữ. Kết luận điều tra cũng đã khẳng định:"Khẩu súng ký hiệu Slavia 631 không phải bắn ra đầu đạn thu được trong người Nguyễn Sỹ L" và mặc dù không thể bắn thực nghiệm điều tra đối với khẩu súng thể thao do Liên Xô (cũ) sản xuất vì nòng súng đã bị bẻ cong không thể khôi phục được tính năng ban đầu nNguyễn Văn H lời khai của Nguyễn Văn H trước đây phù hợp với lời khai của các bị cáo, các người làm chứng và diễn biến sự việc. Hơn nữa, viên đạn thu được trong người anh Nguyễn Sỹ L là loại đạn thể thao, và tại hiện trường cũng chỉ có Nguyễn Văn H là người sử dụng súng thể thao. Bị cáo biết được rằng dùng súng thể thao đánh nhau là nguy hiểm, tính sát thương cao nNguyễn Văn H vẫn sử dụng. Kết quả khẩu súng đó đã bắn ra viên đạn găm vào người anh Nguyễn Sỹ L, gây đa vết thương cho anh Nguyễn Sỹ L dẫn đến tử vong.

Theo Kết luận giám định số 284/PC54 ngày 03/8/2016 của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: “Bên trong nòng súng số hiệu B 4271 có 4 rãnh xoắn, xoắn sang phải”, điều này phù hợp với đầu đạn thu được trong người anh Nguyễn Sỹ L và kết luận giám định số 1054/C54(P3) ngày 18/4/2013 của Viện khoa học hình sự:…“01 đầu đạn thu trong người nạn nhân bằng chì, đường kính 5,54mm. Quan sát dưới kính hiển vi MZ 1000 xác định: Đầu đạn này được bắn ra từ nòng súng có 04 đường xoắn sang phải”. Tại công văn số 2035 ngày 11/11/2015, của Viện khoa học hình sự:…“ Nòng súng số hiệu B4271 là của khẩu súng thể thao TO3 8M, bắn đầu đạn thể thao cỡ 5.6mm, tức nòng súng cỡ 5.6mm. Đầu đạn thu được trong người Nguyễn Sỹ L là của loại đạn thể thao cỡ 5.6mm, sau khi bắn qua nòng súng đường kính còn 5.54mm là hoàn toàn hợp lý. Khẳng định nòng súng số hiệu B4271 của khẩu súng thể thao TO3 8M có thể bắn được đầu đạn đường kính 5.54mm thu trong người nạn nhân Nguyễn Sỹ L”.

Mặt khác, tính năng tác dụng của súng thể thao là phải bóp cò thì súng mới nổ và lúc nổ âm thanh cũng không lớn nên trong lúc đánh nhau hỗn loạn, hô hét lại tại địa bàn rừng núi, mọi người mãi đánh nhau nên không nghe được tiếng súng cũng là hợp lý. Nguyên nhân anh Nguyễn Sỹ L chết là do đa chấn thương trong đó có phát súng của Nguyễn Văn H gây ra.

Tuy nhiên, qua các chứng cứ có tại hồ sơ và quá trình tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét thấy: Xét về ý thức chủ quan thì việc anh Nguyễn Sỹ L chết là ngoài mong muốn của Nguyễn Văn H vì anh Nguyễn Sỹ L là anh rể của bị cáo, giữa bị cáo và anh Nguyễn Sỹ L không có mâu thuẫn gì, hơn nữa lại là cùng một phe trong lúc đánh nhau. Theo lời khai của bị cáo tại hồ sơ thì bị cáo chỉ khua súng chống đỡ trong quá trình đánh nhau, chứ không phải nhằm vào Nguyễn Viết N để bắn, việc cầm vào cò súng và súng nổ là do vô ý, do trong quá trình khua súng, tay chạm vào cò nên súng đã nổ. Vì vậy, việc truy tố đối với Nguyễn Văn H về tội “Giết người” là chưa thõa mãn.

Qua những phân tích trên HĐXX xét thấy Hành vi của Nguyễn Văn H đủ yếu tố cầu thành tội "Vô ý làm chết người" được quy định tại Điều 98 BLHS và tại phiên tòa Viện kiểm sát đã thay đổi quan điểm của cáo trạng đã truy tố đề nghị xử Nguyễn Văn H về tội “Vô ý làm chết người” là hoàn toàn chính xác. Khi thực hiện tội phạm bị cáo có đầy đủ năng lực TNHS, tại phiên tòa bị cáo khai báo quanh co, chưa thành khẩn. Do đó, cần lên một mức án nghiêm đối với bị cáo Nguyễn Văn H để nâng cao tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về phần dân sự, vật chứng: Đã được giải quyết nên miễn xét.

Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn H phạm tội "Vô ý làm chết người". Áp dụng khoản 1 Điều 98 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H. 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (12/6/2013).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng Hình Sự; Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

NỘI DUNG ÁN LỆ

Xét về ý thức chủ quan thì việc anh Nguyễn Sỹ L chết là ngoài mong muốn của Nguyễn Văn H vì anh Nguyễn Sỹ L là anh rể của bị cáo, giữa bị cáo và anh Nguyễn Sỹ L không có mâu thuẫn gì, hơn nữa lại là cùng một phe trong lúc đánh nhau. Theo lời khai của bị cáo tại hồ sơ thì bị cáo chỉ khua súng chống đỡ trong quá trình đánh nhau, chứ không phải nhằm vào Nguyễn Viết N để bắn, việc cầm vào cò súng và súng nổ là do vô ý, do trong quá trình khua súng, tay chạm vào cò nên súng đã nổ. Vì vậy, việc truy tố đối với Nguyễn Văn H về tội “Giết người” là chưa thõa mãn.

Qua những phân tích trên HĐXX xét thấy Hành vi của Nguyễn Văn H đủ yếu tố cầu thành tội "Vô ý làm chết người" được quy định tại Điều 98 BLHS.”

*1 Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.


Danh sách bình luận

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận
Số án lệ Dự thảo án lệ số 13
Tên án lệ Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Vô ý làm chết người”
Lĩnh vực Hình sự

Văn bản liên quan

Số án lệ Tên án lệ Tải về
Dự thảo án lệ số 12 Án lệ số /2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ Tải về
Dự thảo án lệ số 11 Án lệ số /2018/AL về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh thái” trong tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ” Tải về
Dự thảo án lệ số 10 Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Không tố giác tội phạm” Tải về
Dự thảo án lệ số 09 Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” trong khi thi hành công vụ Tải về
Dự thảo án lệ số 08 Án lệ số /2018/AL về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không cho hưởng án treo trong “Tội dâm ô đối với trẻ em” Tải về
Dự thảo án lệ số 07 Án lệ số /2018/AL về khắc phục hậu quả trong “Tội tham ô tài sản” Tải về
Dự thảo án lệ số 06 Án lệ số …./2018/AL về hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Tải về
Dự thảo án lệ số 05 Án lệ số /2018/AL về áp dụng tình tiết tăng nặng “Có tính chất côn đồ” đối với người giúp sức trong tội “Giết người” Tải về
Dự thảo án lệ số 04 Án lệ số …./2018/AL về hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” Tải về
Dự thảo án lệ số 03 Án lệ số …./2018/AL về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên” Tải về

Chịu trách nhiệm nội dung: Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học
Địa chỉ: Số 262 Đội Cấn, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội
Điện thoại: 080.43558
Email: phonganlespc@gmail.com - anle@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Ghi rõ nguồn Trang tin điện tử về án lệ (anle.toaan.gov.vn) khi đăng tải lại các thông tin, dữ liệu từ Trang này.

ácdscv