Skip to main content

Dự thảo án lệ số 09

Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” trong khi thi hành công vụ

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày tháng năm 2018 và được công bố theo Quyết định số /QĐ-CA ngày tháng năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 47/2017/HS-GĐT ngày 20-9-2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án “Cố ý gây thương tích” đối với bị cáo H, sinh năm 1957; trú tại: Thôn X, xã P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05-7-2014 đến ngày 27-01-2016 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại.

Người bị hại: Ông Nguyễn Hữu Th (đã chết).

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 1, 2 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Bị cáo là công an xã sử dụng vũ lực trong lúc lấy lời khai của bị hại, việc bị cáo sử dụng vũ lực không thuộc trường hợp được sử dụng vũ lực trong khi thi hành công vụ theo quy định của pháp luật. Việc bị hại chết là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội cố ý gây thương tích” mà không phải chịu trách nhiệm hình sự về “Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ”.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

- Khoản 1 Điều 97, Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (khoản 1 Điều 127, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015);

Từ khóa của án lệ:

“Cố ý gây thương tích”,“Làm chết người trong khi thi hành công vụ”, “không thuộc trường hợp đang thi hành công vụ”, “sử dụng vũ lực”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 03-7-2014, anh Trương Quốc L đang ngủ ở tiệm cửa sắt của gia tình thì nghe có tiếng động bên ngoài, anh L dậy kiểm tra thì phát hiện ông Nguyễn Hữu Th đang kéo 01 cây sắt phi 10 trong đống sắt trước cửa tiệm, thấy vậy anh L dùng chân đạp cánh cửa tiệm bung ra trúng lưng ông Th, làm ông Th chao đảo người về phía trước, nhưng không ngã xuống đất. Ông Th bỏ chạy ra đường, anh L hô “Trộm, trộm” rồi đuổi theo và bắt được ông Th. Sau đó, anh L gọi điện thoại cho ông Lê Viết S (là trưởng thôn X) đến để giải quyết. Sau khi nghe báo tin, ông S liên lạc với Lê Viết H (là công an viên xã P). H1 điện thoại cho Hồ Minh T, Nguyễn Văn H2 và Hoàng Văn T – thuộc tổ liên gia tự quản quản của thôn X cùng đến tiệm cửa sắt nhà anh L để xử lý việc.

Khi đến tiệm cửa sắt nhà anh L, Lê Viết H1 đưa ông Th đến hội trường thôn X để làm việc. Khi đến nơi, H1 điện thoại cho ông Trần Duy H3 - Trưởng công an xã P để báo cáo sự việc và được ông H3 chỉ đạo tiến hành lập biên bản sự việc, ghi lời khai người biết việc, lời khai ông Th, tạm giữ phương tiện rồi cho ông Th về Lê Viết H1 trực tiếp làm việc với ông Th và anh L, còn anh Hồ Minh T, Nguyễn Văn H2 và Hoàng Văn T ngồi xem ti vi H1 cho ông Th ngồi trên ghế nhựa viết bản tự khai về việc lấy trộm sắt của anh L, tuy nhiên do ông Th vỉết bản tự khai với nội dung: không thừa nhận hành vi trộm cắp mà chỉ vào xem sắt để về đổ trụ tiêu và nội dung không rõ ràng nên H1 quát và dừng tay tát vào mặt ông Th nhiều cái, bắt ông Th viết lại bản tự khai nhiều lần.

Đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 04-7-2014, khi đang viết lại bản tự khai lần thứ 5 thì ông Th kêu đau đầu rồi gục mặt xuống bàn ngủ. Thấy vậy, H1 dùng tay túm tóc ông Th kéo giật ngược lên rồi dùng tay tát vào mặt ông Th và tiếp tục yêu cầu ông Th viết bản tự khai, do ông Th không dậy mà kêu mệt, buồn ngủ nên H1 không làm việc với ông Th nữa. Một lúc sau, thấy ông Th đang ngồi trên ghế tự ngã dập đầu xụống hền nhà thì H1 cùng với Minh T, H2 và Văn T đỡ ông Th dậy đặt ngồi lên ghế. Ông Th ngồi trên ghế được một lúc thì tiếp tục ngã đập đầu xuống nền nhà, Hùng đỡ ông Th ngồi lại trên ghế, nhưng ông Th lại ngã xuống đất. Đến lần thứ 3, do nghĩ ông Th đã say rượu nên H1 và mọi người để ông Th nằm luôn trên nền nhà.

Đến 08 giờ ngày 04-7-2014, khi gia đình ông Th đến thấy ông Th đang nằm im trên nền hội trường thôn, đã thuê xe chở ra Bệnh viện Đa khoa huyện K rồi chuyển lên Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk cấp cứu. Do ông Th bị chấn thương sọ não nặng nên gia đình xin chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy để cấp cứu. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, ông Th chết trên đường đi cấp cứu.

Tại Bản Kết luận pháp y tử thi số 290/PY-T.Th ngày 05-8-2014 và Bản Kết luận pháp y bổ sung số 1190/PYBS ngày 28-11-2014, Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk kết luận: Nguyên nhân tử vong của ông Nguyễn Hữu Th là do chấn thương sọ não, vật tác động thuộc loại cứng, tày, diện rộng; nồng độ rượu trong máu: 4.30 mmol/l.

Tại Bản Kết luận điều tra số 63 ngày 03-7-2015, Cơ quan Cảnh sát diều tra Công an huyện K đề nghị truy tố Lê Viết H1 về tội “Làm chết người trong khi thỉ hành công vụ” theo khoản 1 Điều 97 Bộ luật Hình sự.

Tại Cáo trạng số 62/KSĐT-HS ngày 03-8-2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố Lê Viết H1 về tội“Làm chết người trong khi thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 97 Bộ luật hình sự.

Ngày 04-11-2015, Tòa án nhân dân huyện K ban hành Quyết định số 15/2015/HSST-QĐ trả hồ sơ điều tra bổ sung, vì cho rằng: hành vi đánh người của Lê Viết H1 không liên quan đến công vụ, nên có căn cứ kết luận Lê Víết H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự.

Ngày 09-11-2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện K có Văn bản số 800/CV-VKS giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng số 62/KSĐT-HS ngày 03-8-2015.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 08-3-2016, Tòa án nhân dân huyện K quyết định: Áp dụng khoản 1 Điều 97; điềm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Viết H1 03 (ba) năm tù về tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tỉnh từ ngày bị bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 05-7-2014 đến ngày 27-01-2016.

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm bồi thưòng dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 22-3-2016, Lê Viết H1 kháng cáo xin dược giảm nhẹ hình phạt; đại diện của người bị hại là ông Nguyễn Tri P và bà Võ Thị Kim Q kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử Lê Viết H1 về tội ''Giết người" hoặc “Cố ý gây thương tích", truy tố đồng phạm và xem xét lại phần bồi thường dân sự.

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 196/2016/HSPT ngày 09-6-2016, Tòa án nhân dân tỉnh ĐăkLăk đã nhận định: hành vi phạm tội của Lê Viết H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tuy nhiên theo quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn của việc xét xử, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, kiến nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm để hủy Bản án hình sự sơ thẩm và Bản án hình sụ phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm truy tố, xét xử lại theo đúng quy định pháp luật” và quyết định: “Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Viết H1 và kháng cáo của đại điện cho gia đình người bị hại, Y án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 08-3-2016 của Tòa án nhân dân huyện K tỉnh Đắk Lắk”.

Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 14/2017/KN-HS ngày 09-5-2017, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 08-3-2016 của Tòa án nhân dân huyện K để điều tra lại theo thủ tục chung, với lý do: hành vi của Lê Viết H1 cấu thành tội “Cố ý gây thương tích" theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện K, tỉnh Đắk Lắk khởi tố, truy tố Lê Viết H1 về tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ ” là đánh giá chưa đúng sự thật khách quan của vụ án.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, Lê Viết H1 đều thừa nhận: do ông Nguyễn Hữu Th viết bản tự khai có nội đung không rõ ràng và không khai nhận hành vi trộm sắt, nên bị cáo bực tức mà dùng tay tát, đánh nhiều cái vào mặt, mang tai ông Th, toàn bộ thương tích dẫn đến chết của ông Nguyễn Hữu Th là do chính bị cáo gây ra.

Theo quy định tại khoản 6, khoản 7 Điều 9 Pháp lệnh Công an xã năm 2008 và Điều 9 Thông Tư số 12/2010/TT-BCA ngày 08-4-2010 của Bộ Công an (về nhiệm vụ, quyền hạn của công an xã) thì công an xã chỉ có quyền bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm đang lẩn trốn trên địa bàn, lập biên bản theo quy định và dẫn giải ngay đối tượng lên Công an cấp trên; đối với các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì lập hồ sơ ban đầụ, lấy lời khai người bị hại, người biết việc... và báo cáo ngay cho Công an cấp trên để có biện pháp xử lý kịp thời. Công an xã không có chức năng, quyền hạn trong việc lấy lời khai hay buộc người phạm tội quả tang ghi bản tự khai, ghi lời khai. Như vậy, Lê Viết H1 đưa ông Nguyễn Hữu Th đến hội trường thôn X và bắt ông Th viết bản tự khai là không đúng thẩm quyền. Mặt khác, khi thấỷ ông Th có dấu hiệu bị say rượu, hạn chế khả năng nhận thức, thì lẽ ra Lê Viết H1 phải thực hiện đúng theo sự chỉ đạo của Trưởng công an xã là chỉ lấy lời khai người biết sự việc (anh L), tạm giữ phương tiện và cho ông Th về.

Ngoài ra, cũng theo quy định tại Chương II Pháp lệnh Công an xã năm 2008 thì Công an xã chỉ có quyền dùng vũ lực trong trường hợp cần thiết để cấp cứu người bị nạn, cứu hộ, cứu nạn, đuổi bắt người phạm tội quả tang, người có quyết định truy nã, truy tìm; đối tượng côn đồ hung hãn, chống người thi hành công vụ hoặc trong trường hợp phòng vệ chính đáng và những trường hợp cấp thiết khác.

Đối chiếu quy định trên, trong quá trình Lê Viết H1 đưa ông Th và hội trường thôn X và yêu cầu viết bản tự khai, thì ông Th hoàn toàn chấp hành và hợp tác, không có hành vi chống trả, cản trở hay bỏ trốn. Do đó, hành vi phạm tội củạ Lê Viết H1 là không thuộc trường hợp được sử dụng vũ lực của công an xã. Chỉ với lý do ông Th không khai nhận có hành vi trộm cắp sắt của anh L, nội dung bản tự khai không rõ ràng, mà H1 đã dùng vũ lực đối với ông Th là thể hiện sự hống hách, coi thưòng tính mạng, sức khỏe của người khác, nên hậu quả do hành vi của Lê Viết H1 gây ra không thuộc trường hợp đang thi hành công vụ.

[2] Việc ông Th chết là nằm ngoài mong muốn chủ quan của bị cáo, mục đích của bị cáo chỉ dùng tay đánh ông Th, làm cho ông Th sợ mà khai nhận hành vi trộm sắt của gia đình anh Trương Quốc L, nên hành vi của Lê Viết H1 cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện K khởi tố, truy tố Lê Viết H1 về tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” là đánh giá chưa đúng sự thật khách quan của vụ án, cũng như bản chất hành vi phạm tội của bị cáo, từ đó dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định tội danh của Lê Viết H1 và áp dụng pháp luật để xử lý.

Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2016/HSST ngày 08-3-2016 của Tòa án nhân dân huyện K và Bản án hình sự phúc thẩm số 196/2016/HSPT ngày 09-6-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk xét xử Lê Viết H1 về tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” là không đúng quy định pháp luật nên cần phải hủy toàn bộ để điều tra, truy tố lại theo thủ tục chung.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 285; Điều 287 và Điều 289 Bộ luật Tố tụng hình sự;

1. Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 196/2016/HSPT ngày 09-6-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đăk Lăk và Bản án hình sự sơ thầm số 10/2016/HSST ngày 08-3-2016 của Tòa án nhân dân huyện K để điều tra lại theo thủ tục chung.

2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để điều tra lại theo đúng quy định của pháp luật.

NỘI DUNG ÁN LỆ

[1] “… hành vi phạm tội của Lê Viết H1 là không thuộc trường hợp được sử dụng vũ lực của công an xã. Chỉ với lý do ông Th không khai nhận có hành vi trộm cắp sắt của anh L, nội dung bản tự khai không rõ ràng, mà H1 đã dùng vũ lực đối với ông Th là thể hiện sự hống hách, coi thưòng tính mạng, sức khỏe của người khác, nên hậu quả do hành vi của Lê Viết H1 gây ra không thuộc trường hợp đang thi hành công vụ.

[2] Việc ông Th chết là nằm ngoài mong muốn chủ quan của bị cáo, mục đích của bị cáo chỉ dùng tay đánh ông Th, làm cho ông Th sợ mà khai nhận hành vi trộm sắt của gia đình anh Trương Quốc L, nên hành vi của Lê Viết H1 cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật Hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng huyện K khởi tố, truy tố Lê Viết H1 về tội “Làm chết người trong khi thi hành công vụ” là đánh giá chưa đúng sự thật khách quan của vụ án, cũng như bản chất hành vi phạm tội của bị cáo, từ đó dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định tội danh của Lê Viết H1 và áp dụng pháp luật để xử lý.”


Danh sách bình luận

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận
Số án lệ Dự thảo án lệ số 09
Tên án lệ Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” trong khi thi hành công vụ
Lĩnh vực Hình sự

Văn bản liên quan

Số án lệ Tên án lệ Tải về
Dự thảo án lệ số 08 Án lệ số /2018/AL về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không cho hưởng án treo trong “Tội dâm ô đối với trẻ em” Tải về
Dự thảo án lệ số 07 Án lệ số /2018/AL về khắc phục hậu quả trong “Tội tham ô tài sản” Tải về
Dự thảo án lệ số 06 Án lệ số …./2018/AL về hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Tải về
Dự thảo án lệ số 05 Án lệ số /2018/AL về áp dụng tình tiết tăng nặng “Có tính chất côn đồ” đối với người giúp sức trong tội “Giết người” Tải về
Dự thảo án lệ số 04 Án lệ số …./2018/AL về hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” Tải về
Dự thảo án lệ số 03 Án lệ số …./2018/AL về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong tội “Vi phạm các quy định về khai thác tài nguyên” Tải về
Dự thảo án lệ số 02 Án lệ số /2018/AL về tình tiết “giết nhiều người”, “có tính chất côn đồ” trong tội “Giết người” Tải về
Dự thảo án lệ số 01 Án lệ số /2018/AL về tình tiết phạm tội “có tổ chức” trong tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Tải về

Chịu trách nhiệm nội dung: Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học
Địa chỉ: Số 262 Đội Cấn, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội
Điện thoại: 080.43558
Email: phonganlespc@gmail.com - anle@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Ghi rõ nguồn Trang tin điện tử về án lệ (anle.toaan.gov.vn) khi đăng tải lại các thông tin, dữ liệu từ Trang này.

ácdscv