Skip to main content

Dự thảo án lệ số 19

Án lệ số .../..../AL về tính hợp pháp của Thư ký ghi biên bản phiên họp Đại hội đồng cổ đông không phải là Thư ký của công ty.

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày ... tháng ... năm … và được công bố theo Quyết định số .../QĐ-CA ngày ... tháng ... năm ... của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Quyết định giám đốc thẩm số 20/2017/KDTM - GĐTngày 14-7-2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp yêu cầu hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông” tại thành phố Hải Phòng giữa giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Hồng H1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L với bị đơn là Công ty Công nghệ phẩm HP; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn Th, bà Lê Thị M, ông Hoàng L.

Vị trí nội dung án lệ:

Đoạn 8 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung của án lệ:

- Tình huống án lệ:

Điều lệ, quy chế hoạt động của công ty có quy định thư ký ghi biên bản Đại hội đồng cổ đông là phải là thư ký của công ty nhưng pháp luật không quy định. Tại phiên họp Đại hội đồng cổ đông đã biểu quyết nhất trí thư ký đại hội không phải là thư ký của doanh nghiệp. Thư ký đại hội đã ghi chép, phản ánh đúng diễn biến của Đại hội, không ảnh hưởng đến trình tự, thủ tục thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định của pháp luật.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, thư ký lập biên bản Đại hội đồng cổ đông được coi là hợp pháp.

Quy định của pháp luật có liên quan đến án lệ:

Điều 104 Luật Doanh nghiệp năm 2005

Từ khóa của án lệ:

“Thư ký”; “người ghi biên bản”, “quyết định của Đại hội đồng cổ đông”.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, các nguyên đơn là ông Nguyễn Hồng H1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L trình bày:

Ngày 28/5/2013, Công ty cổ phần Công nghệ phẩm HP (sau đây viết tắt là Công ty C) tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường (sau đây viết tắt là Đại hội) nhưng vi phạm quy định của pháp luật và Điều lệ Công ty, cụ thể như sau:

1. Về trình tự, thủ tục triệu tập Đại hội:

- Hội đồng quản trị không tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên mà tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường là vi phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 97 Luật Doanh nghiệp; điểm a, b khoản 3 Điều 12 Điều lệ Công ty đó là Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính; ông Ngô Văn Th - Chủ tịch Hội đồng quản trị, bà Lê Thị M thành viên Hội đồng quản trị kết hợp cùng bà Đặng Thị Hồng H4 chiếm giữ Công ty C trái phép 2 tuần từ ngày 05/12/2011 đến ngày 19/12/2011, cướp phá tài sản tiền, các tài liệu kế toán của công ty.

- Hội đồng quản trị không gửi thông báo và tài liệu họp cho phần lớn các cổ đông: Theo quy định tại Điều 100 Luật Doanh nghiệp; khoản 2 Điều 16 Điều lệ Công ty C thì người triệu tập Đại hội phải gửi Thông báo mời họp đến các cổ đông có quyền dự họp kèm theo mẫu chỉ định đại diện theo ủy quyên dự họp, chương trình họp, phiếu biểu quyết và tài liệu thảo luận để làm cơ sở thông qua quyết định và dự thảo nghị qụyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp. Tuy nhiên, chỉ một số cổ đông của công ty nhận được Giấy mời họp và thông báo chung chung (không phải là Thông báo mời họp). Bà Trần Thị Kim L, bà Nguyễn Thị Bích H3 không nhận được Thông báo mời họp và các tài liệu; bà Nguyễn Thị Đ chỉ nhận được một phong bì của Công ty C gửi nhưng bên trong không có gì; ông Nguyễn Hồng H1, bà Lương Thị H2 nhận được Thông báo mời họp do ông Th ký trong đó có địa điểm, ngày giờ họp, ngày đăng ký và phiếu biểu quyết nhưng không có báo cáo tài chính, trong thông báo nêu “Tài liệu Đại hội quý cổ đông vui lòng tải về từ trang thông tin điện tử (Website) www.congnghiepham.com hoặc nhận trực tiếp tại Văn phòng Ban tổ chức, cư trú tại số 53 phố L, Hải Phòng. Trong trường họp quý cổ đông không nhận được giấy mời thì thông báo của Công ty C trên báo Pháp luật Việt Nam sẽ thay cho Giấy mời” nhưng trang Website thực tế không tồn tại và không có dữ liệu, do đó nội dung thông báo là hoàn toàn trái pháp luật, lừa dối cô đông và vi phạm nghiêm trọng quyên lợi của cổ đông.

- Hội đồng quản trị không cho cổ đông được quyền xem xét và tra cứu Danh sách cổ đông: Giấy mời tham dự Đại hội ghi sai họ tên, số lượng cổ phần của một số cổ đông sở hữu trên 10% cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục 06 tháng trở lên. Bà H2, bà Đ và bà Tr có văn bản gửi bà Lê Thị M - thành viên Hội đồng quản trị ký nhận lúc 11 giờ ngày 25/5/2013 tại số 53 phố L với nội dung yêu cầu cung cấp danh sách cổ đông có quyền dự họp và kiến nghị bổ sung chương trình Đại hội nhưng Hội đồng quản trị không cung cấp, không niêm yết tại Công ty để cho cổ đông xem xét tra cứu, cụ thể là bà Đ, bà H2 bị sai cư trú tại, sai số cổ phần, cổ phần của bà H2 trong sổ cổ đông và giấy chứng nhận, cổ phần là 167, phiếu biểu quyết ghi 167 cổ phần, nhưng thực tế bà H2 chỉ còn 37 cổ phần vì đã chuyển nhượng cho người khác.

- Các cổ đông của Công ty gồm bà Nguyễn Thị Tuyết L, ông Vũ Huy P, ông Bùi Công Đ, ông Nguyễn Đình H5, bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2 có văn bản kiến nghị bổ sung 5 nội dung vào chương trình Đại hội gồm: nhóm cổ đông đề cử các thành viên giám sát bầu cử, các thành viên ban kiểm phiếu trong Đại hội để đảm bảo tính khách quan và minh bạch; miễn nhiệm chức vụ thành viên Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị đối với ông Ngô Văn Th, ông Hoàng L, bà Lê Thị M; bỏ nội dung bầu bà Đặng Thị Hồng H4 là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của công ty; bỏ nội dung thay đổi ngành kinh doanh áp mã hàng. Các cổ đông không được tham dự Đại hội để biểu quyết; biên bản Đại hội đồng cổ đông ghi Văn bản kiến nghị do ông Ngô Văn Th, Chủ tọa Đại hội từ chối không chấp nhận là trái pháp luật.

- Hội đồng quản trị (người triệu tập Đại hội) chỉ đạo Ban kiểm tra tư cách cổ đông đã ngăn cản không cho cổ đông vào tham dự Đại hội: Các cổ đông đến đúng giờ như thông báo mời họp là 13 giờ 30 phút, nhưng bảo vệ của Công ty Đ và xã hội đen chốt ở cửa ra vào Khách sạn HN, các cửa vào hội trường chính. Khi các cổ đông đăng ký, Ban kiểm tra tư cách cổ đông (không phải người của công ty) không cho vào với lý do đăng ký không đúng hạn như thông báo; yêu cầu chứng minh tư cách cổ đông mới được cấp thẻ ra vào mặc dù các cổ đông đều có tên, có cổ phần trong danh sách cổ đông và những người được ủy quyền của cổ đông khác cũng không được vào. Số cổ đông sở hữu trên 30% tống số cố phần có quyền biểu quyết ở ngoài đợi đến 17 giờ 30 cùng ngày nhưng Đại hội đã kết thúc lúc 16 giờ, các cổ đông được tham dự đã ra về băng cửa sau khách sạn. Như vậy, ông Th, bà M, ông L đã vi phạm khoản 5 Điều 101 Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty về quy trình, thể thức tiến hành đại hội.

2. Về trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết đinh:

- Trình tự thủ tục ra quyết định: Ban tổ chức không cho các cổ đông vào tham dự, biểu quyết là hành vi vi phạm nghiêm trọng trình tự thủ tục khi thông qua các quyết định tại Đại hội, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cổ đông.

- Tỷ lệ cổ phần của từng cổ đông khi tham gia biểu quyết thông qua Quyết định của Đại hội: Hội đồng quản trị tự tiến hành với 08 cổ đông chính thức và 08 người đại diện ủy quyền, tỷ lệ sở hữu trên 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, ngăn cản 100 cổ đông chiếm tỷ lệ trên 30% tổng số cổ phần không cho vào dự đại hội để thực hiện việc biểu quyết thông qua các quyết định tại Đại hội là vi phạm Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty. Vì vậy, các nguyên đơn đề nghị Tòa án hủy bỏ toàn bộ Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 28/5/2013.

Bị đơn là Công ty C do bà Nguyễn Thị Tuyết L trình bày:

Bà đang là Giám đốc, người đại diện theo pháp luật của Công ty C nhưng cũng không được mời dự Đại hội và không được nhận tài liệu để thảo luận. Công ty C nhất trí hủy Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 28/5/2013 vì trình tự thủ tục triệu tập và trình tự thủ tục ra quyết định trái pháp luật.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Ngô Văn Th, bà Lê Thị M, ông Hoàng L trình bày:

Hội đồng quản trị Công ty C xét thấy cần thiết vì lợi ích của Công ty nên đã triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 97 Luật Doanh nhiệp. Luật Doanh nghiệp không bắt buộc phải Đại hội đồng cổ đông thường niên trước mới được Đại hội đồng cổ đông bất thường. Bà Nguyễn Thị Tuyết L không hợp tác, không có báo cáo tài chính nên không tổ chức được Đại hội đồng cổ đông thường niên. Cổ đông có quyền dự họp được chốt danh sách cổ đông của Công ty C. Chương trình và nội dung họp thực hiện đúng Điều 99 Luật Doanh nghiệp. Ban tổ chức đã gửi giấy mời họp, thông báo mời họp, giấy xác nhận tham dự Đại hội, quy chế tổ chức, tờ trình về việc bãi nhiệm chức vụ Giám đốc đối với bà Nguyễn Thị Tuyết L, tờ trình về việc bổ nhiệm chức vụ Giám đốc người đại diện theo pháp luật đối với bà Đặng Thị Hồng H4, tờ trình về việc áp mã ngành, chương trình Đại hội, phiếu biếu quyết từ số 01 đến số 07, phiếu đặt câu hỏi, dự thảo Nghị quyết Đại hội đến tất cả các cổ đông, gửi qua đường bưu điện phát nhanh bảo đảm. Thông báo mời họp đã được đăng tải qua trang Website của Công ty, được đăng 3 lần liên tiếp trên báo Pháp luật. Một số cổ đông như bà Nguyễn Thị Tuyết L, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L từ chối không nhận thông báo và các tài liệu kèm theo. Điều kiện tiến hành Đại hội đáp ứng tỷ lệ 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; thể thức tiến hành họp và việc biểu quyết đúng quy định tại Điều 103 Luật Doanh nghiệp. Các quyết định của Đại Hội đồng cổ đông được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp. Đại hội đã ra Nghị quyết số 33/2013/NQ-DHĐCĐBT quyết định nội dung: Thông qua việc phê chuẩn Quyết định số 79 và 80/201l/QĐ-HĐQT ngày 21/11/2011 của Hội đồng quản trị về việc miễn nhiệm chức vụ Giám đốc - người đại diện theo pháp luật đối với bà Nguyễn Thị Tuyết L và bổ nhiệm bà Đặng Thị Hồng H4 là Giám đốc - người đại diện theo pháp luật của Công ty C thông qua việc áp (bổ sung) mã ngành kinh tế cấp bốn trong hệ thống ngành nghề kinh tế của Việt Nam đối với các ngành nghề mà Công ty đã đăng ký với tỷ lệ hơn 90% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả các cổ đông có quyền dự họp. Hai kiến nghị của nhóm cổ đông: bà Nguyễn Thị Tuyết L, ông Vũ Huy P, ông Bùi Công Đ, ông Nguyễn Đình H5, bà Nguyễn Thị Đ và bà Lương Thị H2 một kiến nghị có chữ ký, Hội đồng quản trị nhận được lúc 11 giờ ngày 25/5/2013, việc này bà Lê Thị M thành viên Hội đồng quản trị - Ban tổ chức đại hội đã mời những người có tên trong kiến nghị đến văn phòng Hội đồng quản trị giải quyết (gọi điện, nhắn tin) nhưng họ không đến, ông Nguyễn Đình H5 chửi bới, đe dọa Hội đồng quản trị. Tại Đại hội kiến nghị của nhóm cổ đông được đưa ra xem xét thảo luận nhưng không được chấp nhận vì vi phạm thời gian gửi (theo Luật Doanh nghiệp) và nội dung kiến nghị không phù hợp. Không có việc không cho các cổ đông vào họp. Tại bàn kiêm tra tư cách cổ đông, một số người là cổ đông nhưng không đăng ký kiểm tra tư cách cổ đông là tự tước bỏ quyền dự họp. Ngoài ra còn có rất nhiều người không phải là cổ đông gây rối, chửi bới, xô đẩy bàn ghế, mục đích để cho Ban tổ chức không làm việc được. Các cổ đông khác có đủ giấy tờ như đã thông báo và đăng ký tại bàn kiểm tra tư cách đều đã được Ban tổ chức phát thẻ vào dự Đại hội.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2014/KDTM-ST ngày 20/02/2014, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về hủy bỏ Quyết định của Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 28/5/2013 của Công ty C.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21/02/2014, bị đơn là Công ty C có đơn kháng cáo.

Ngày 03/3/2014, các nguyên đơn có đơn kháng cáo.

Tại Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 79/2014/KDTM-PT ngày 16/5/2014, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Nguyễn Hồng H1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L và kháng cáo của bị đơn là Công ty C, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Ngày 16/6/2014, các ông Nguyễn Hồng H1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L và bà Nguyễn Thị Tuyết L có đơn đề nghị giám đốc thẩm.

Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 10/2015/KDTM-KN ngày 12/6/2015, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 79/2014/KDTM-PT ngày 16/5/2014 của Toà Phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm nêu trên và Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 02/2014/KDTM -ST ngày 20/02/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm lại theo quy định của pháp luật, với lý do (tóm tắt): Bản án sơ thẩm và bán án phúc thâm đã có vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, kết luận trong bản án không phù hợp các tình tiết khách quan của vụ án, chưa thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ, toàn diện, về sổ đăng ký cổ đông (có 02 Sổ đăng ký cổ đông với số cổ đông khác nhau nhưng chưa được Tòa án làm rõ; Tòa án hai cấp không điều tra làm rõ để bảo đảm quyền lợi của các cổ đông, không xác minh xem danh sách cổ đông nào là chính xác mà chỉ căn cứ vào Danh sách cổ đông ngày 06/11/2011, để ban hành bản án sơ thẩm và phúc thẩm là chưa đủ căn cứ); bà Đặng Thị Hồng H4 chưa đủ điều kiện để trở thành cổ đông của Công ty C; Hợp đồng số 36 ngày 01/5/2013 về tổ chức sự kiện Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2013 của Công ty C là vô hiệu ngay từ khi giao kết; bà Trương Thị M làm thư ký là không đúng quy định… Do đó, Biên bản Đại hội đồng cổ đông không có giá trị pháp lý.

Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao châp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, ông Nguyễn Hồng H1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L yêu cầu Tòa án hủy bỏ toàn bộ Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 28/5/2013 của Công ty C. Tòa án cấp sơ thâm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định đây là tranh chấp giữa các thành viên của công ty với công ty theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự, từ đó giải quyết bằng vụ án kinh doanh, thương mại là không chính xác. Trong trường hợp này, phải xác định quan hệ tranh chấp là “tranh chấp về yêu cầu hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông” theo quy định tại khoản 4 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 (các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại) và giải quyết bằng việc kinh doanh, thương mại. Sai sót này của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ án.

[2] Về Sổ đăng ký cổ đông của Công ty C: Hồ sơ vụ án có 02 Sổ đăng ký cổ đông: Sổ đăng ký cổ đông ngày 06/01/2011 có 62 cổ đông. Đây là sổ đăng ký cổ đông mà Hội đồng quản trị Công ty C dùng để lập danh sách đại biểu đủ điều kiện tham dự Đại hội đồng cổ đông bất thường, sổ đăng ký cổ đông ngày 27/5/2013 có 107 cổ đông do bà Đặng Thị Tuyết L cung cấp cho Tòa án và được lập ngày 27/5/2013, chỉ trước ngày diễn ra Đại hội đồng cổ đông bất thường 01 ngày, là không họp pháp, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 98 Luật Doanh nghiệp 2005. Tại thời điểm Hội đồng quản trị lập danh sách cổ đông có quyền tham dự Đại hội, Công ty C không có một sổ đăng ký cổ đông nào khác ngoài sổ đăng ký cổ đông ngày 06/01/2011. Hội đồng quản trị đã lập danh sách theo sổ đăng ký cổ đông đề ngày 06/01/2011 là đúng. Tài liệu có trong hồ sơ vụ án do phía nguyên đơn cung cấp (để chứng minh số cổ phần của bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2 đã thay đổi) và một số hợp đồng chuyển nhượng cổ phần đều được đề ngày 01/01/2013 giữa bà Nguyễn Thị Đ (nguyên đơn) với bà Trần Thị Kim Th (chuyển nhượng 20 cổ phần), với bà Phạm Thanh Ng (chuyển nhượng 34 cổ phân); giữa bà Lương Thị H 2 (nguyên đơn) với ông Đoàn Thanh H6 (chuyển nhượng 20 cổ phân), với bà Phạm Ngọc Tr (chuyển nhượng 30 cổ phần), với ông Bùi Thanh B (chuyển nhượng 10 cổ phần), với bà Nguyễn Thu Tr (chuyển nhượng 30 cổ phần), với bà Phạm Thị Bích V (chuyển nhượng 40 cổ phần)... Các hợp đồng chuyển nhượng cổ phần này chỉ có xác nhận của bà L ghi với tư cách Giám đốc và đóng dấu Công ty, không có xác nhận của Chủ tịch Hội đồng quản trị theo quy định tại điểm c khoản 2.2 Điều 6 Quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị: Chủ tịch Hội đồng quản trị “ký giấy chứng nhận vốn góp của các cổ đông; xác nhận việc chuyển nhượng vốn góp, các văn bản liên quan đến vốn góp, quyền chủ sở hữu”. Vì vậy, các hợp đồng này là không hợp pháp; các ông bà nhận chuyển nhượng cổ phần nêu trên chưa phải là cổ đông của Công ty C nên không được ghi tên trong danh sách cổ đông của Công ty là đúng. Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào sổ cổ đông ngày 06/01/2011 để giải quyết vụ án là có căn cứ.

[3] Về tư cách cổ đông của bà Đặng Thị Hồng H4: Ngày 05/01/2010 bà Đặng Thị Hồng H4 nhận chuyển nhượng 11.766 cổ phần của ông Lê Phú C và ngày 02/01/2011 nhận chuyển nhượng 2.763 cổ phần của ông Vũ Văn T. Việc chuyển nhượng này đã được bà Nguyễn Thị Tuyết Len (Giám đốc Công ty) và ông Ngô Văn Th - Chủ tịch Hội đồng quản trị ký tên và xác nhận “công ty đang in giấy chứng nhận sở hữu nên công ty sẽ làm giấy chuyển tên sau”; từ ngày 06, 07/01/2011 “bà H4 là cổ đông chính thức của Công ty”, đúng theo quy định tại điểm c khoản 2.2 Điều 6 Quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị. Cổ phần mà bà Đặng Thị Hồng H4 nhận chuyển nhượng lại của ông Lê Phú C và ông Vũ Văn T vào tháng 01/2011 là loại cổ phần được tự do chuyển nhượng vì đã hết thời hạn sau ba năm kể từ ngày Công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định tại khoản 3, 5 Điều 87, khoản 5 Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005 và điểm c khoản 2 Điều 10 Điều lệ Công ty. Do đó, việc chuyển nhượng cổ phần giữa ông C, ông T với bà H4 là hợp pháp. Vê việc đăng ký sở hữu cổ phần của bà H4 với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khoản 4 Điều 86 Luật Doanh nghiệp quy định: “Cổ đông sở hữu từ 5% tổng số cổ phần trở lên phải được đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày có được tỷ lệ sở hữu đó”. Bà H4 nhận chuyển nhượng của ông C, ông T số cổ phần chiếm 26,9% tổng số cổ phần của Công ty nên thuộc trường họp phải được đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền. Do bà Nguyễn Thị Tuyết L giữ con dấu của công ty và không làm văn bản để đăng ký với Phòng đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng, nên số cổ phần của bà H4 chưa được đăng ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không phải lỗi của bà H4. Mặt khác, việc đăng ký này không làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu của cổ đông theo quy định tại khoản 3 Điều 87 Luật Doanh nghiệp: "Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua,.. được ghi đúng, ghi đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty. Bà H4 đã được ghi tên vào sổ cổ đông năm 2011, nên đã là cổ đông của Công ty C, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của cổ đông theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty trình đại hội... bằng phương thức chuyển phát nhanh (có báo phát) đến toàn thể các cổ đông được quyền dự họp theo danh sách. Các nguyên đơn gồm: bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Hồng H1, bà Lương Thị H2 đã nhận được Thông báo mời họp và các tài liệu kèm theo; bà Nguyễn Thị Tuyết L, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L, Tạ Thị Ng từ chối không nhận nhưng thực tế các cổ đông này đều nắm được nội dung chương trình Đại hội (thể hiện tại kiến nghị bổ sung ngày 22/5/2013 gửi Hội đồng quản trị Công ty) và đều có mặt tại địa điểm tổ chức Đại hội. Hội đồng quản trị Công ty C cũng đã thông báo về Đại hội trên Báo Pháp luật Việt Nam (3 kỳ liên tiếp); đăng tin thông báo về Đại hội trên Đài truyền hình Hải Phòng (ngày 09, 10/5/2013); dán và niêm yết thông báo về Đại hội cùng danh sách cổ đông có quyền dự họp tạỉ Trụ sở Công ty; đăng tin về Đại hội cùng các tài liệu kèm theo trên trang thông tin điện tử www.congnghepham.com từ ngày 10/5/2013 (có hợp đồng tên miền và Website do ông Ngô Văn Th - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty C ký với Công ty cổ phần thương mại SL ngày 06/5/2013 trong thời hạn 01 năm kể từ ngày ký).

[5]  Tại thời điểm làm thủ tục với Ban kiểm tra tư cách cổ đông tham dự Đại hội ngày 28/5/2013, một số cổ đông có tên trong sổ cổ đông đề ngày 27/5/2013 (do bà L cung cấp) đã đăng ký tham dự Đại hội với số cổ phần sở hữu của mình phù hợp với Danh sách cổ đông do Ban tổ chức đại hội lập: ông Nguyễn Đình H5 đã viết tay và ký tên xác nhận sở hữu 2.334 cổ phần như trên Danh sách cổ đông chốt ngày 25/4/2013 dựa trên sổ cổ đông ngày 06/01/2011, mà không phải là 540 cổ phần như trên Sổ cổ đông đề ngày 27/5/2013 do bà L ký; bà Lương Thị H2 ký xác nhận sở hữu 167 cổ phần như trên Danh sách cổ đông chốt ngày 25/4/2013 dựa trên Sổ cổ đông ngày 06/01/2011, mà không phải là 37 cổ phần như trên sổ cổ đông đề ngày 27/5/2013 do bà L cung cấp. Như vậy, Ban tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường Công ty C đã thực hiện đúng thủ tục mời, triệu tập Đại hội theo quy định tại khoản 1 Điều 99, Điều 100 Luật Doanh nghiệp 2005, khoản 3 Điều 16 Điều lệ Công ty.

[6] Kháng nghị cho rằng ông Bùi Công Đ, ông Đặng Tiến D bị giả mạo chữ ký xác nhận trên giấy báo phát của bưu điện là không có cơ sở, bởi lẽ, thông báo mời họp và hồ sơ tham dự đại hội đã được gửi đến địa chỉ thường trú của cổ đông đã đăng ký với Công ty qua bưu điện theo phương thức bảo đảm có giấy báo phát chuyên về theo đúng quy định tại Điều 100 Luật Doanh nghiệp và thực tế các cổ đông này đều có mặt tại địa điểm tổ chực Đại hội. Ngoài ra, kháng nghị còn cho rằng “ông Nguyễn Hữu D không ủy quyền cho ông Vũ Xuân T tham dự Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 28/5/2013”. Tuy nhiên, thông báo mời họp và tài liệu họp đều đã được gửi đến đúng địa chỉ của ông D tại xã P, huyện P, tỉnh Hà Tây. Tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 28/5/2013, ông Vũ Xuân T đã xuất trình đầy đủ các giấy tờ cần thiết như thông báo mời họp, giấy ủy quyền của ông D (theo mẫu của Ban tổ chức). Vì vậy, Ban kiểm tra tư cách cổ đông sau khi kiểm tra tư cách cổ đông của ông T thấy ông T có đủ tư cách nên đã để ông T vào tham dự Đại hội là đúng trình tự, thủ tục mà Ban tổ chức Đại hội đề ra.

[7] Về tính hợp pháp của Hợp đồng số 36/2013/HĐ-TCSK ngày 01/5/2013 giữa ông Ngô Văn Th - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty C và Công ty cổ phần truyền thông Q về việc tổ chức sự kiện Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2013: Khoản 1 Điều 108 Luật Doanh nghiệp và khoản 1 Điều 21 Điều lệ Công ty C quy định: “Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông”. Do đó, việc ông Ngô Văn Th ký hợp đồng với Công ty Cổ phần truyền thông Q để phục vụ cho Đại hội đồng cổ đông là không vi phạm quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ Công ty. Mặt khác, Công ty Cổ phần truyền thông Q không có khiếu kiện hay tranh chấp về hợp đồng này; nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng không có yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp, hợp lệ của Hợp đồng số 36/2013/HĐ-TCSK ngày 01/5/2013 nêu trên. Kháng nghị cho rằng Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty nhân danh Công ty ký hợp đồng nêu trên là trái với quy định tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp và khoản 2 Điều lệ Công ty về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Hội đồng quản trị nên Hợp đồng nêu trên vô hiệu ngay từ khi giao kết theo Điều 137 Bộ luật Dân sự, là không đúng và vượt quá yêu cầu khởi kiện.

[8] Về thư ký ghi biên bản họp Đại hội đồng cổ đông bất thường: Điểm c khoản 2 Điều 103 Luật Doanh nghiệp quy định“ Chủ toạ cử một người làm thư ký lập biên bản họp Đại hội đồng cổ đông” nhưng Luật Doanh nghiệp không quy định thư ký Đại hội đồng cổ đông, phải là thư ký của công ty. Điều 27 Điều lệ Công ty C và khoản 2,3 Điều 10 Quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị quy định: Hội đồng quản trị chỉ định một Thư ký Công ty với nhiệm vụ làm biên bản các cuộc họp; Thư ký Công ty làm thư ký cuộc họp Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông. Do đó, việc bà Trương Thị M (nhân viên Công ty Cổ phần truyền thông Q) làm thư ký Đại hội đồng cổ đông bất thường và lập Biên bản Đại hội là chưa đúng với Quy chế nói trên. Tuy nhiên, tại Đại hội, các cổ đông tham dự đã biểu quyết thông qua nhất trí để bà Trương Thị M làm thư ký cho Đại hội. Mặt khác, thư ký lập Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông bất thường cũng chỉ là người ghi chép diễn biến của Đại hội, việc thư ký Đại hội không phải là thư ký của công ty không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ việc, cũng như không ảnh hưởng đến trình tự, thủ tục thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Điều 104 Luật Doanh nghiệp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 337, khoản 1 Điều 343 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Không chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 10/2015/KDTM-KN ngày 12/6/2015 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

2. Giữ nguyên Bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 79/2014/KDTM-PT ngày 16/5/2014 của Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp về yêu cầu hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Hồng H1, bà Nguyễn Thị Đ, bà Lương Thị H2, bà Nguyễn Thị Bích H3, bà Trần Thị Kim L với bị đơn là Công ty C; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn Th, bà Lê Thị M, ông Hoàng L.

NỘI DUNG ÁN LỆ

[8] Về thư ký ghi biên bản họp Đại hội đồng cổ đông bất thường: Điểm c khoản 2 Điều 103 Luật Doanh nghiệp quy định“ Chủ toạ cử một người làm thư ký lập biên bản họp Đại hội đồng cổ đông” nhưng Luật Doanh nghiệp không quy định thư ký Đại hội đồng cổ đông, phải là thư ký của công ty. Điều 27 Điều lệ Công ty C và khoản 2,3 Điều 10 Quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị quy định: Hội đồng quản trị chỉ định một Thư ký Công ty với nhiệm vụ làm biên bản các cuộc họp; Thư ký Công ty làm thư ký cuộc họp Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông. Do đó, việc bà Trương Thị M (nhân viên Công ty Cổ phần truyền thông Q) làm thư ký Đại hội đồng cổ đông bất thường và lập Biên bản Đại hội là chưa đúng với Quy chế nói trên. Tuy nhiên, tại Đại hội, các cổ đông tham dự đã biểu quyết thông qua nhất trí để bà Trương Thị M làm thư ký cho Đại hội. Mặt khác, thư ký lập Biên bản họp Đại hội đồng cổ đông bất thường cũng chỉ là người ghi chép diễn biến của Đại hội, việc thư ký Đại hội không phải là thư ký của công ty không làm ảnh hưởng đến bản chất của vụ việc, cũng như không ảnh hưởng đến trình tự, thủ tục thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Điều 104 Luật Doanh nghiệp.


Danh sách bình luận

0 Bình luận

Ý kiến bình luận

Đổi mã xác nhận
Số án lệ Dự thảo án lệ số 19
Tên án lệ Án lệ số .../..../AL về tính hợp pháp của Thư ký ghi biên bản phiên họp Đại hội đồng cổ đông không phải là Thư ký của công ty
Lĩnh vực Khác

Văn bản liên quan

Số án lệ Tên án lệ Tải về
Dự thảo án lệ số 18 Án lệ số…./2018/AL về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê tài sản; hủy quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn và bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại Tải về
Dự thảo án lệ số 17 Án lệ số /2018/AL về trách nhiệm chi trả quyền lợi bảo hiểm trong trường hợp yêu cầu kê khai thông tin không rõ ràng Tải về
Dự thảo án lệ số 16 Án lệ số ……/2017/TANDTC-AL về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu do nhầm lẫn Tải về
Dự thảo án lệ số 15 Án lệ số…./2018/AL về phạt cọc để bảo đảm giao kết hợp đồng Tải về
Dự thảo án lệ số 14 Án lệ số…./2018/AL về di sản chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân Tải về
Dự thảo án lệ số 13 Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Vô ý làm chết người” Tải về
Dự thảo án lệ số 12 Án lệ số /2018/AL về hành vi giết người đang thi hành công vụ Tải về
Dự thảo án lệ số 11 Án lệ số /2018/AL về không cho hưởng án treo vì “ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh thái” trong tội “Vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm, được ưu tiên bảo vệ” Tải về
Dự thảo án lệ số 10 Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Không tố giác tội phạm” Tải về
Dự thảo án lệ số 09 Án lệ số /2018/AL về hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” trong khi thi hành công vụ Tải về

Chịu trách nhiệm nội dung: Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học
Địa chỉ: Số 262 Đội Cấn, Q. Ba Đình, TP. Hà Nội
Điện thoại: 080.43558
Email: phonganlespc@gmail.com - anle@toaan.gov.vn

© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Ghi rõ nguồn Trang tin điện tử về án lệ (anle.toaan.gov.vn) khi đăng tải lại các thông tin, dữ liệu từ Trang này.

ácdscv