Loading...
Skip to content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
án lệ

Dự thảo án lệ số 17

()

DỰ THẢO ÁN LỆ SỐ 17

Án lệ số…./2018/AL về việc không khôi phục hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày… tháng… năm 2018 và được công bố theo Quyết định số …/QĐ-CA ngày… tháng… năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Bản án dân sự phúc thẩm số 1477/2015/DS-PT ngày 02-12-2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Trương Nữ Mộng K và cháu Nguyễn Thị Thảo T.

Vị trí nội dung của án lệ:

Từ Đoạn 6 đến Đoạn 16 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung án lệ:

Tình huống án lệ:

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ quy định ngay sau khi kết thúc thời gian gia hạn đóng phí, nếu bên mua bảo hiểm vẫn không thanh toán phí bảo hiểm thì hợp đồng sẽ mất hiệu lực kể từ ngày bắt đầu gia hạn đóng phí; bên mua bảo hiểm có thể yêu cầu khôi phục hiệu lực của hợp đồng nếu nộp hồ sơ yêu cầu khôi phục hiệu lực của hợp đồng trong một thời hạn nhất định và được doanh nghiệp bảo hiểm chấp thuận bằng văn bản.

Trong thời gian gia hạn đóng phí, bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm. Trong thời hạn nộp hồ sơ yêu cầu khôi phục hiệu lực của hợp đồng, sau khi bên mua bảo hiểm chết, người thân thích của bên mua bảo hiểm nộp phí bảo hiểm, đơn yêu cầu khôi phục hiệu lực của hợp đồng nhưng doanh nghiệp bảo hiểm chưa có văn bản chấp thuận khôi phục hiệu lực của hợp đồng.

Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, Tòa án phải xác định hợp đồng bảo hiểm nhân thọ không được khôi phục hiệu lực và doanh nghiệp bảo hiểm không phải chi trả quyền lợi bảo hiểm.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Các điều 23, 35 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Từ khóa của án lệ:

“Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”; “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ hết hiệu lực”; “Khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”.

 

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 30-12-2014 và lời khai tiếp theo của ông Ngô Quốc V (đại diện nguyên đơn), trình bày:

Bà Nguyễn Thị T là vợ ông Nguyễn Trung Đ. Ông Đ có tham gia hợp đồng bảo hiểm với công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ D (nay viết tắt là Công ty D), Hợp đồng số 2129865 ngày 28-01-2013, mức bảo hiểm 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng. Ngày 26-10-2014 ông Đ bị tai nạn giao thông và đã qua đời.

Ngày 12-11-2014, bà T yêu cầu Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ D trả tiền bảo hiểm đã giao kết nhưng theo văn bản ngày 02-12-2014 thì bị đơn đã từ chối chi trả bảo hiểm với lý do: Hợp đồng tạm thời mất hiệu lực. Ông Đ chưa hoàn tất thủ tục ký và nộp phiếu yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng theo Điều 12 của Quy tắc và Điều khoản của sản phẩm. Quy tắc này bị đơn không cung cấp cho bà T, bị đơn không cung cấp thông tin rõ ràng nay lại bắt lỗi khách hàng là lừa dối khách hàng.

Mặt khác, trước đó bị đơn cũng đã biết ông Đ đã có đơn yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm vào ngày 25-10-2014. Thực tế bà T cũng đã thanh toán phí bảo hiểm thay cho ông Đ và bị đơn cũng đã nhận số tiền này. Sau đó nhân viên của bị đơn là bà K yêu cầu bà T giao phiếu thu tiền bảo hiểm để làm thủ tục chi trả bảo hiểm. Tuy nhiên cho đến nay vẫn không thực việc chi trả. Bị đơn cho rằng hợp đồng hết hiệu lực và từ chối chi trả bảo hiểm trong khi bị đơn vẫn thu phí, xuất phiếu thu là trái với thỏa thuận của hợp đồng.

Nay bà T yêu cầu bị đơn phải thanh toán cho bà T số tiền bảo hiểm 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng.

Phía bị đơn là Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ D có người đại diện trình bày:

Ông Nguyễn Trung Đ có ký hợp đồng tham gia bảo hiểm nhân thọ của công ty theo Hợp đồng mang số 2129865 như ông V trình bày là đúng. Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày 28-01-2013. Theo qui định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, Quy tắc điều khoản bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh kèm theo hợp đồng bảo hiểm này đã được Bộ Tài chính phê chuẩn tại Công văn 283/BTC- QLBH ngày 09-01-2012.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh thì hợp đồng nêu trên đã mất hiệu lực kể từ ngày 28-7-2014 do bên mua không thanh toán kỳ phí bảo hiểm đến hạn ngày 28-7-2014. Vì vậy, ngày 26-9-2014, Công ty bảo hiểm đã gởi thông báo cho ông Đ về tình trạng mất hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm số 2129865.

Ngày 25-10-2014, bà T đã nộp thay ông Đ 1.956.000 đồng của kỳ phí bảo hiểm nêu trên và có lập phiếu yêu cầu khôi phục hợp đồng. Do phiếu yêu cầu khôi phục không có chữ ký của ông Đ, là người mua bảo hiểm, nên Công ty không nhận để xử lý yêu cầu khôi phục này.

Liên quan đến việc khôi phục hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, Điều 13 Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh có quy định :

- Người có thể yêu cầu khôi phục hiệu lực của hợp đồng là bên mua bảo hiểm.

- Hợp đồng bảo hiểm chỉ được coi là đã khôi phục hiệu lực khi có văn bản chấp thuận của Công ty. Thời điểm hợp đồng được khôi phục sẽ được ghi rõ trên văn bản chấp thuận này .

- Bên mua bảo hiểm và Người được bảo hiểm vẫn phải còn sống vào thời điểm khôi phục.

Tính đến thời điểm ngày 28-7-2014 hợp đồng bảo hiểm nêu trên đã mất hiệu lực và Công ty cũng chưa có văn bản nào chấp thuận khôi phục hiệu lực của hợp đồng.

Ông Đ tử vong ngày 26-10-2014 thì ngày 02-12-2014 Công ty cũng đã giải thích cụ thể gởi đến gia đình bà T. Trước yêu cầu của ông V đại diện cho bà T yêu cầu Công ty phải thanh toán số tiền 250.000.000 đồng phí bảo hiểm thì Công ty không đồng ý.

Ông Nguyễn Thái H - Đại diện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Trương Nữ Mộng K trình bày:

K là đại lý bảo hiểm của Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ D. Bà có thực hiện để giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ giữa Công ty D với ông Đ. Với tư cách là đại lý bảo hiểm bà đã thực hiện đúng chức năng được ủy quyền của Công ty bảo hiểm. Theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thì nếu có phát sinh tranh chấp thì thuộc về Công ty bảo hiểm, còn bà chỉ chịu trách nhiệm với Công ty bảo hiểm.

  Tại Bản án sơ thẩm số 173/2015/DS-ST ngày 07-8-2015, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử như sau:

Không chấp nhận yêu cầu đòi tiền bảo hiểm nhân thọ của bà Nguyễn Thị T đối với Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ D.

Về án phí DSST: Bà T phải chịu 12.500.000 đồng. Bà T đã tạm ứng theo biên lai thu số 0000205 ngày 03 tháng 02 năm 2015 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận số tiền 6.250.000 đồng, nay phải nộp tiếp 6.250.000 đồng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của hai bên đương sự.

Ngày 17-8-2015, ông Ngô Quốc V, là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa hôm nay:

  + Người đại diện nguyên đơn có ý kiến:

- Khi giao kết hợp đồng, phía Công ty bảo hiểm không thông báo cho ông Đ biết nội dung của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm. Công ty D đã có hành vi gian dối khi giao kết hợp đồng.

  - Ngày 25-10-2014, bà T đã nộp tiền để khôi phục hợp đồng và đại lý của phía bị đơn cũng đã thu tiền, nên hợp đồng vẫn có hiệu lực.

  Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. Về số tiền 1.956.000 đồng mà bà T nộp để khôi phục hợp đồng thì bà T chưa yêu cầu phía bị đơn thanh toán lại trong trường hợp yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.

  + Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn có ý kiến: Hợp đồng bảo hiểm giữa Công ty D và ông Đ đã hết hiệu lực do ông Đ vi phạm nghĩa vụ đóng tiền và đã quá hạn gia hạn nhưng ông Đ vẫn không đóng tiền. Việc bà T đóng tiền thì hợp đồng cũng chưa được khôi phục do không có chữ ký của ông Đ, chưa có văn bản chấp thuận khôi phục hợp đồng của Công ty D. Công ty D không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

+ Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát nghiên cứu đúng pháp luật, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và các bên đương sự đã chấp hành đúng những quy định về thủ tục tố tụng. Đơn kháng cáo trong hạn luật định.

- Về nội dung: Khi giao kết hợp đồng, ông Đ đã được xem xét đầy đủ các nội dung, điều khoản của hợp đồng. Do ông Đ vi phạm về việc không đóng phí hợp đồng quá hạn 02 tháng nên hợp đồng đã hết hiệu lực. Hợp đồng cũng chưa được khôi phục lại nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe các bên đương sự trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Ngày 28-01-2014, ông Nguyễn Trung Đ có ký hợp đồng bảo hiểm với công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ D (nay viết tắt là Công ty D) theo Hợp đồng số 2129865, mức bảo hiểm 250.000.000 (Hai trăm năm mươi triệu) đồng. Ông Đ không thanh toán kỳ phí bảo hiểm đến hạn ngày 28-7-2014, nên khi đến hạn 02 tháng Công ty D thông báo cho ông Đ về tình trạng mất hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm số 212965.

[3] Ngày 25-10-2014, bà Nguyễn Thị T (là vợ của ông Đ) đến đại lý bảo hiểm nộp thay cho ông Đ số tiền 1.956.000 đồng.

[4] Ngày 26-10-2014, ông Đ bị tai nạn giao thông và qua đời.

[5] Hội đồng xét xử thấy rằng:

[6] Tại các văn bản của hợp đồng có chữ ký của Công ty D với ông Đ thì phần ghi chú cuối trang có thể hiện nội dung "Vui lòng tham khảo thêm Quy tắc và Điều khoản sản phẩm để có thông tin đầy đủ về các điều khoản và điều kiện liên quan đến các quyền lợi nêu trên". Điều này thể hiện rằng khi giao kết hợp đồng thì phía Công ty D có tư vấn cho ông Đ biết những nội dung của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm và ông Đ phải có nghĩa vụ xem thêm Quy tắc và Điều khoản sản phẩm để biết rõ các thông tin. Mặt khác, bản Quy tắc và Điều khoản sản phẩm đã được đăng ký và phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên có giá trị và được xem như là một phần của hợp đồng khi các bên giao kết hợp đồng.

[7] Do đó, Quy tắc và Điều khoản sản phẩm sẽ được áp dụng để xem xét giải quyết.

[8] Điều 12 của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh có quy định: "Thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm là 60 ngày và sẽ bắt đầu kể từ ngày đến hạn nộp phí trong 03 năm hợp đồng bảo hiểm đầu tiên nếu bên mua bảo hiểm không nộp đủ phí bảo hiểm cơ bản khi đến hạn…". Ngày đến hạn nộp phí là ngày 28-7-2014, nhưng đến ngày 25-10-2014 thì bà T mới đến nộp phí thay cho ông Đ. Như vậy, việc nộp phí này là quá thời gian gia hạn theo quy định của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh.

[9] Tiếp đến, Điều 12 cũng quy định như sau: "Trong thời gian gia hạn đóng phí, hợp đồng bảo hiểm vẫn duy trì hiệu lực. Ngay sau khi kết thúc thời gian gia hạn đóng phí, nếu bên mua bảo hiểm vẫn không thanh toán phí bảo hiểm, Hợp đồng bảo hiểm sẽ mất hiệu lực kể từ ngày bắt đầu thời gian gia hạn đóng phí".

[10] Như vậy, hợp đồng giữa ông Nguyễn Trung Đ và Công ty D đã hết hiệu lực từ ngày 28-7-2014 nếu hai bên không khôi phục lại hợp đồng theo quy định tại Điều 13 Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh.

[11] Điều 13 Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh quy định như sau:

[12] "Bên mua bảo hiểm có thể yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng đã bị mất hiệu lực theo Quy tắc và Điều khoản của Hợp đồng bảo hiểm này nếu đáp ứng tất cả các điều kiện sau:

[13]- Bên mua bảo hiểm nộp hồ sơ yêu cầu khôi phục hiệu lực của Hợp đồng cho Công ty D trong vòng 02 năm kể từ ngày Hợp đồng bảo hiểm bị mất hiệu lực gần nhất;

[14] …..

[15] Nếu được chấp thuận, thời điểm Hợp đồng được khôi phục hiệu lực sẽ được tính từ ngày ghi trên văn bản chấp thuận của Công ty D, với điều kiện cả bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm vẫn còn sống vào thời điểm khôi phục”.

[16] Bà T nộp đơn yêu cầu khôi phục nhưng bà T không phải là người mua bảo hiểm và Công ty D chưa có văn bản chấp thuận khôi phục hợp đồng theo như thoả thuận giữa hai bên. Do đó, hợp đồng bảo hiểm được ký giữa ông Nguyễn Trung Đ với Công ty D là đã hết hiệu lực kể từ ngày 28-7-2014. Ngày 26-10-2014 ông Đ chết nên không còn được hưởng quyền lợi của hợp đồng bảo hiểm do hợp đồng đã hết hiệu lực.

[17] Án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T là có cơ sở.

[18] Tuy nhiên, việc nộp tiền của bà T vào ngày 25-10-2014 với số tiền 1.956.000 đồng là nộp ngoài hợp đồng bảo hiểm. Do đó, Công ty D phải có nghĩa vụ trả lại cho bà T số tiền trên. Tuy nhiên, người đại diện của bà T không yêu cầu Toà án giải quyết buộc Công ty D hoàn trả số tiền trên kể cả trong trường hợp yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Khi cần thiết và có tranh chấp thì các bên có thể khởi kiện tranh chấp về số tiền trên nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

[19] Từ những lý lẽ đã viện dẫn, xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà T là không được chấp nhận.

[20] Do yêu cầu không được chấp nhận nên bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 200.000 đồng.

Bởi các lẽ trên;

Áp dụng Điều 132, 263, 275 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011);

Áp dụng Điều 23 Luật Kinh doanh Bảo hiểm;

Ap dụng Pháp lệnh về án phí, lệ phí Toà án,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 173/2015/DS-ST ngày 07-8-2015 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên như sau:

1.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo hiểm nhân thọ D trả tiền bảo hiểm là 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng).

1.2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu 12.500.000 đồng (mười hai triệu, năm trăm ngàn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu số AC/2014/0000205 ngày 03 tháng 02 năm 2015 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận là 6.250.000 đồng (sáu triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng). Bà T phải nộp tiếp 6.250.000 đồng (sáu triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng).

2. Bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà bà T đã nộp là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số AC/2014/0000834 ngày 21-8-2015 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận. Bà T đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

  Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

NỘI DUNG ÁN LỆ:

"[6] Tại các văn bản của hợp đồng có chữ ký của Công ty D với ông Đ thì phần ghi chú cuối trang có thể hiện nội dung "Vui lòng tham khảo thêm Quy tắc và Điều khoản sản phẩm để có thông tin đầy đủ về các điều khoản và điều kiện liên quan đến các quyền lợi nêu trên". Điều này thể hiện rằng khi giao kết hợp đồng thì phía Công ty D có tư vấn cho ông Đ biết những nội dung của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm và ông Đ phải có nghĩa vụ xem thêm Quy tắc và Điều khoản sản phẩm để biết rõ các thông tin. Mặt khác, bản Quy tắc và Điều khoản sản phẩm đã được đăng ký và phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên có giá trị và được xem như là một phần của hợp đồng khi các bên giao kết hợp đồng.

[7] Do đó, Quy tắc và Điều khoản sản phẩm sẽ được áp dụng để xem xét giải quyết.

[8] Điều 12 của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh có quy định: "Thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm là 60 ngày và sẽ bắt đầu kể từ ngày đến hạn nộp phí trong 03 năm hợp đồng bảo hiểm đầu tiên nếu bên mua bảo hiểm không nộp đủ phí bảo hiểm cơ bản khi đến hạn…". Ngày đến hạn nộp phí là ngày 28-7-2014, nhưng đến ngày 25-10-2014 thì bà T mới đến nộp phí thay cho ông Đ. Như vậy, việc nộp phí này là quá thời gian gia hạn theo quy định của Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh.

[9] Tiếp đến, Điều 12 cũng quy định như sau: "Trong thời gian gia hạn đóng phí, hợp đồng bảo hiểm vẫn duy trì hiệu lực. Ngay sau khi kết thúc thời gian gia hạn đóng phí, nếu bên mua bảo hiểm vẫn không thanh toán phí bảo hiểm, Hợp đồng bảo hiểm sẽ mất hiệu lực kể từ ngày bắt đầu thời gian gia hạn đóng phí".

[10] Như vậy, hợp đồng giữa ông Nguyễn Trung Đ và Công ty D đã hết hiệu lực từ ngày 28-7-2014 nếu hai bên không khôi phục lại hợp đồng theo quy định tại Điều 13 Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh.

[11] Điều 13 Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm An Tâm Hưng Thịnh quy định như sau:

[12] "Bên mua bảo hiểm có thể yêu cầu khôi phục hiệu lực hợp đồng đã bị mất hiệu lực theo Quy tắc và Điều khoản của Hợp đồng bảo hiểm này nếu đáp ứng tất cả các điều kiện sau:

[13]- Bên mua bảo hiểm nộp hồ sơ yêu cầu khôi phục hiệu lực của Hợp đồng cho Công ty D trong vòng 02 năm kể từ ngày Hợp đồng bảo hiểm bị mất hiệu lực gần nhất;

[14] …

[15] Nếu được chấp thuận, thời điểm Hợp đồng được khôi phục hiệu lực sẽ được tính từ ngày ghi trên văn bản chấp thuận của Công ty D, với điều kiện cả bên mua bảo hiểm và người được bảo hiểm vẫn còn sống vào thời điểm khôi phục”.

[16] Bà T nộp đơn yêu cầu khôi phục nhưng bà T không phải là người mua bảo hiểm và Công ty D chưa có văn bản chấp thuận khôi phục hợp đồng theo như thoả thuận giữa hai bên. Do đó, hợp đồng bảo hiểm được ký giữa ông Nguyễn Trung Đ với Công ty D là đã hết hiệu lực kể từ ngày 28-7-2014. Ngày 26-10-2014 ông Đ chết nên không còn được hưởng quyền lợi của hợp đồng bảo hiểm do hợp đồng đã hết hiệu lực.”

 

 

 

 

Các bình luận

Gửi bình luận

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chịu trách nhiệm nội dung: Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học
Địa chỉ: Số 262 Đội Cấn, Q. Ba Đình, Tp. Hà Nội - Điện thoại: (04) 08048292 - Email: anle@toaan.gov.vn
© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Ghi rõ nguồn Trang điện tử án lệ (anle.toaan.gov.vn) khi đăng tải lại các thông tin, dữ liệu từ Trang này.

Số lượt truy cập: 453,902