Loading...
Skip to content

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
án lệ

Dự thảo án lệ số 15

()

DỰ THẢO ÁN LỆ SỐ 15

Án lệ số…./2018/AL về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin

Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày… tháng… năm 2018 và được công bố theo Quyết định số …/QĐ-CA ngày… tháng… năm 2018 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn án lệ:

Bản án dân sự phúc thẩm số 1308/2012/DSPT ngày 23-10-2012 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án “Tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Ngọc L với bị đơn là Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Ngô Thị N, bà Nguyễn Thị H, cháu Nguyễn Tấn Đ, cháu Nguyễn Thị Thanh T.

Vị trí nội dung của án lệ:

Đoạn 12 phần “Nhận định của Tòa án”.

Khái quát nội dung án lệ:

- Tình huống án lệ:

Bên mua bảo hiểm nhân thọ đồng thời là người được bảo hiểm biết mình bị nghiện chất kích thích (rượu, bia, thuốc lá,…) nhưng khi khai trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm liên quan đến đối tượng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm chỉ khai thỉnh thoảng có sử dụng chất kích thích.

- Giải pháp pháp lý:

Trường hợp này, Tòa án phải xác định hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu do bên mua bảo hiểm vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin.

Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:

Các điều 18, 19, 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Từ khóa của án lệ:

“Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ”; “Nghĩa vụ cung cấp thông tin”; “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ vô hiệu”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Ngọc L: Ngày 15-11-2010, em ruột ông là ông Nguyễn Văn C và Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A đã ký hợp đồng bảo hiểm số 100007035109008UL-A1 với các nội dung chính như sau: Người được bảo hiểm ông Nguyễn Văn C, loại sản phẩm bảo hiểm kế hoạch tài chính trọn đời, quyền lợi toàn diện A1; mệnh giá sản phẩm chính: 500.000.000 đồng; phí bảo hiểm cơ bản: 12.450.000 đồng, áp dụng cho năm thứ nhất; phí bảo hiểm thực đóng: 21.500.000 đồng cho mỗi kỳ đóng phí năm; người thụ hưởng theo hợp đồng được chỉ định là ông (Nguyễn Ngọc L). Trường hợp người được bảo hiểm tử vong trước thời gian 10 năm kể từ ngày hiệu lực của hợp đồng thì ông sẽ là người giám hộ trực tiếp để bảo đảm quyền lợi cho 02 con của ông C.

Ngày 06-6-2011, người được bảo hiểm là ông C bị bệnh và sau khi đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Bà Rịa-Vũng Tàu, bệnh chuyển biến nặng, người nhà xin đưa về nhà và đã tử vong. Ngày 09-6-2011, ông liên hệ với bị đơn để tiến hành các thủ tục yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho người được bảo hiểm tử vong. Ngày 18-7-2011, bị đơn trả lời bằng văn bản từ chối thanh toán với lý do: Qua thu thập thông tin từ địa phương và cơ quan chức năng cung cấp, thì ông C là người nghiện rượu trước khi tham gia bảo hiểm, thông tin này mâu thuẫn với thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp lúc lập hồ sơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyết định chấp thuận bảo hiểm và đã vi phạm nghĩa vụ thông tin trung thực. Do vậy hợp đồng số 100007035109008UL-A 1 không có hiệu lực từ khi giao kết, nghĩa vụ giải quyết quyền lợi bảo hiểm của Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A không phát sinh.

Theo ông trong hợp đồng bảo hiểm ông C cũng xác nhận “có uống rượu khi đi dự tiệc” chứ không kê khai gian dối là không sử dụng rượu. Phía Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A đã sử dụng thông tin không có căn cứ để né tránh nghĩa vụ thanh toán như biên bản xác minh của công an xã P cung cấp cho biết ông C là người nghiện rượu từ năm 2005 cho đến khi qua đời. Như vậy Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A không thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho người thân của ông C là không có cơ sở pháp lý. Nay ông yêu cầu buộc Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A phải thanh toán số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) và số tiền lãi theo lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước quy định kể từ ngày 18-7-2011 đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm là 40.625.500 đồng (bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn năm trăm đồng).

Người đại diện của bị đơn là ông Nguyễn Hữu N trình bày: Ngày 12-11-2010 ông Nguyễn Văn C với tư cách người mua bảo hiểm đã lập hồ sơ yêu cầu mua bảo hiểm với công ty để tham gia sản phẩm bảo hiểm kế hoạch tài chính trọn đời với mệnh giá sản phẩm 500.000.000 đồng.

Trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm trên, khi được yêu cầu cung cấp thông tin về sức khỏe với nội dung: Người được bảo hiểm có uống rượu bia không? Ông Nguyễn Văn C đã trả lời: Có, thỉnh thoảng đi đám tiệc có uống vài ly rượu và ông C cam kết những thông tin đã cung cấp là chính xác. Đây chính là những thông tin để công ty xác định có chấp thuận hay không việc ký kết Hợp đồng bảo hiểm.

Ngày 15-11-2010 bên mua bảo hiểm ông C đã nộp số tiền 21.500.000 đồng, ngày 15-11-2010 công ty đã phát hành hợp đồng bảo hiểm số 100007035109008 UL-A1 chấp thuận bảo hiểm cho người mua bảo hiểm là ông Nguyễn Văn C với điều kiện sức khỏe như đã cam kết là không uống rượu nhiều và không bị một số bệnh trong đó có bệnh xơ gan.

Sau đó, ngày 14-6-2011 công ty nhận được phiếu yêu cầu thanh toán quyền lợi bảo hiểm cho hợp đồng bảo hiểm trên vì lý do người được bảo hiểm đã tử vong ngày 06-6-2011. Tuy nhiên, qua thông tin công ty thu thập được từ công an xã P, huyện L, tỉnh B và bà Nguyễn Thị L – chị ruột ông C thì ông C là người nghiện rượu, uống rượu thường xuyên và liên tục nhiều năm. Thông tin này mâu thuẫn với thông tin ông C đã cung cấp cho công ty khi lập hồ sơ yêu cầu bảo hiểm. Ngoài ra theo “Tóm tắt bệnh án” của ông C và các công văn số 1080/BV115-KHTH ngày 15-12-2011, 211/BV115-KHTH ngày 13-3-2012 của Bệnh viện 115 cung cấp cho Tòa thì ông C là người nghiện rượu, bị bệnh xơ gan. Như vậy thông tin bên mua bảo hiểm là ông C đã cung cấp cho công ty là không chính xác, không đầy đủ vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 3.1 của Hợp đồng bảo hiểm và Điều 18.2, 19.1 Luật kinh doanh bảo hiểm, vi phạm nguyên tắc trung thực trong việc giao kết hợp đồng dân sự và nghĩa vụ cung cấp thông tin theo các quy định trong Bộ luật Dân sự. Căn cứ Điều 3.2 của Hợp đồng bảo hiểm công ty có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Nay công ty không đồng ý đối với yêu cầu của nguyên đơn. Công ty chỉ đồng ý hoàn trả lại số tiền phí bảo hiểm người mua bảo hiểm đã đóng là 21.500.000 đồng theo quy định của Điều 3.2 hợp đồng bảo hiểm đã ký.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà là vợ hợp pháp của ông Nguyễn Văn C, bà và ông C có hai con chung là Nguyễn Thị Thanh T, sinh ngày 10-8-2003 và Nguyễn Tấn Đ, sinh ngày 14-11-2001. Do các con chung với ông C là người chưa thành niên nên bà, ngoài tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn là người đại diện theo pháp luật của hai con, ông C chết ngày 06-6-2011 do bệnh. Bà có cùng yêu cầu như nguyên đơn.

Bản án sơ thẩm số 26/2012/DSST ngày 29-6-2012 của Toà án nhân dân Quận 1 đã quyết định:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 25; điểm a khoản 1 Điều 33; điểm a khoản 1 Điều 35; các Điều: 65, 66, 131, 179, 210, 238, 243 và 245 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004;

  - Các Điều 6, 132, 137; khoản 1 Điều 141; khoản 2 Điều 305, Điều 389; Điều 573; điểm a khoản 1 Điều 675; điểm a khoản 1 Điều 676 Bộ luật dân sự 2005;

  - Điều 19, Điều 22 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000;

  - Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

  - Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009.

Xử:

Tuyên bố Hợp đồng bảo hiểm số 100007035109008UL-A1 ngày 15-11-2010 được xác lập giữa ông Nguyễn Văn Cận và Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A là vô hiệu.

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A thanh toán số tiền bảo hiểm là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và trả lãi do việc chậm thực hiện nghĩa vụ là 40.625.500 (bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm đồng), tổng cộng là 540.625.500 đồng (năm trăm bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm đồng).

Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H, cháu Nguyễn Thị Thanh T và cháu Nguyễn Tấn Đ (Đại diện theo pháp luật của cháu T, Đ: Bà Nguyễn Thị H) số tiền 21.500.000 (hai mươi mốt triệu năm trăm ngàn) đồng ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong hoặc thi hành không đầy đủ thì còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng số tiền, thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Ngọc L phải chịu là 25.625.000 đồng (hai mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng), được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm do ông Nguyễn Ngọc L đã nộp là 12.077.500 đồng theo biên lai số 06126, ngày 13-10-2011 của Thi hành án dân sự Quận 1. Ông Nguyễn Ngọc L còn phải nộp 13.547.500 đồng (mười ba triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm) đồng.

Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A phải chịu là 1.075.000 (một triệu bảy mươi lăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04-7-2012 ông Nguyễn Ngọc L kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, phần thủ tục phiên tòa Luật sư Phạm Tất Thắng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa do không có mặt của người đại diện Bệnh viện nhân dân 115.

Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục phiên tòa phúc thẩm vì Bệnh viện nhân dân 115 đã cung cấp đầy đủ các tài liệu, không cần thiết có mặt của đại diện Bệnh viện nhân dân 115. Đề nghị tiếp tục phiên tòa.

Hội đồng xét xử tuyên bố phiên tòa phúc thẩm vẫn được tiến hành.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, nguyên đơn không rút kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Luật sư Phạm Tất Th trình bày yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền bảo hiểm cho nguyên đơn là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và số tiền trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước quy định kể từ ngày 18-7-2011 đến ngày Tòa xét xử sơ thẩm là 40.625.500 đồng (bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi lăm ngàn năm trăm đồng).

Luật sư Trương Hoàng V không có ý kiến bổ sung.

Ông Nguyễn Ngọc L không có ý kiến bổ sung.

Phần tranh luận:

Luật sư Phạm Tất Th bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A có phải có nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm cho ông Nguyễn Văn C hay không. Nghiện rượu chỉ có bệnh viện tâm thần mới trả lời được, nghiện rượu và uống nhiều rượu là hai khái niệm khác nhau. Bệnh viện 115 cho rằng ông C nghiện rượu theo lời khai của người nhà ông C là không chính xác, tính xác thực của hợp đồng có hay không, bản án cấp sơ thẩm không triệu tập ông T và ông P là người ký tên trong hợp đồng bảo hiểm tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi liên quan là có thiếu xót. Đề nghị áp dụng Điều 275 và Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm.

Luật sư Trương Hoàng V bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Luật sư của bị đơn cung cấp cho Tòa một bản án đã xử thì chúng ta không áp dụng án lệ. Ông C có phải là người nghiện rượu hay không, tại công văn của Sở Y tế và của Bệnh viện tâm thần thì để xác định một người có nghiện rượu hay không cần phải có những căn cứ khoa học, Bệnh viện 115 kết luận ông C nghiện rượu là không có căn cứ.

Ông Nguyễn Ngọc L không có ý kiến bổ sung.

Luật sư Đặng Ngọc C bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn trình bày: Trong phiên tòa phúc thẩm hôm nay nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Luật sư phía nguyên đơn chỉ đưa ra những lý luận theo tài liệu khoa học về nghiện rượu. Bệnh viện 115 kết luận ông C nghiện rượu là đã chẩn đoán và hội chẩn trong bệnh án. Luật sư yêu cầu mời những người trong hợp đồng bảo hiểm tham gia tố tụng là không cần thiết, việc tranh chấp này là ông C có nghiện rượu và cung cấp thông tin trên hợp đồng bảo hiểm không trung thực là vi phạm hợp đồng, là vi phạm các quy định của pháp luật bảo hiểm. Bản án chúng tôi cung cấp cho Tòa là để tham khảo. Đề nghị bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Ông Nguyễn Hữu N đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ A không có ý kiến bổ sung.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn yêu cầu triệu tập những người ký tên trong hợp đồng bảo hiểm tham gia tố tụng là không cần thiết.

Về nội dung: Căn cứ công văn 1080/BV 115- KHTH ngày 15-12-2011 và “Tóm tắt bệnh án” của Bệnh viện 115 theo yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án nhân dân Quận 1 và tại phiên tòa sơ thẩm đại diện của Bệnh viện 115 xác định theo hồ sơ bệnh án ông C có biểu hiện của hội chứng cai rượu. Ông C là người ký hợp đồng mua bảo hiểm, không trung thực khi giao kết hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm vô hiệu. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Căn cứ Hợp đồng bảo hiểm số 100007035109008UL-A1 ngày 15-11-2010, có cơ sở để xác định ông Nguyễn Văn C và Công ty Bảo hiểm nhân thọ A có ký hợp đồng bảo hiểm, sản phẩm bảo hiểm chính là kế hoạch tài chính trọn đời, quyền lợi toàn diện A1; mệnh giá sản phẩm chính là 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng), ông Nguyễn văn C là người được bảo hiểm 1 và Công ty Bảo hiểm nhân thọ A là người sẽ thanh toán số tiền bảo hiểm, ông Nguyễn Ngọc L là người thụ hưởng được chỉ định để nhận các quyền lợi bảo hiểm khi người được bảo hiểm 1 tử vong. Và ngày 15-11-2010 ông Nguyễn Văn C đã nộp số tiền 21.500.000 đồng (hai mươi mốt triệu năm trăm ngàn đồng).

[3] Sau khi ký Hợp đồng bảo hiểm, thì ngày 05-12-2010 ông Nguyễn Văn C nhập viện tại bệnh viện nhân dân 115 lý do nhập viện: Ói ra máu và ngày 20-12-2010 ông Nguyễn Văn C xuất viện. Ngày 06-6-2011 ông Nguyễn Văn C chết, nguyên nhân chết: Bệnh.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc L cho rằng kết luận ông Nguyễn Văn C nghiện rượu và khai không trung thực trong hợp đồng bảo hiểm là không đúng, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn cho rằng theo công văn của Sở Y tế và của Bệnh viện tâm thần thì để xác định một người có nghiện rượu hay không cần phải có những căn cứ khoa học, yêu cầu xác định về khoa học để xác định ông C có nghiện rượu hay không.

[5] Xét, hiện nay ông Nguyễn Văn C đã chết, nên việc giám định ông C có nghiện rượu hay không là không thực hiện được.

[6] Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ đơn đề nghị Tòa án thu thập chứng cứ của Công ty Bảo hiểm nhân thọ A ngày 05-12-2011 và ngày 12-12-2011 Tòa án cấp sơ thẩm có văn bản số 765/2011/QĐ-YCCC yêu cầu bệnh viện nhân dân 115 cung cấp bản sao hồ sơ bệnh án số 10.53450 và kết luận liên quan đến chẩn đoán bệnh của bệnh nhân Nguyễn văn C. Ngày 15-12-2011, Bệnh viện nhân dân 115 có công văn số 1080/BV115-KHTH kèm theo tóm tắt bệnh án với nội dung:

[7] Tình trạng bệnh nhân và quá trình điều trị: Họ tên bệnh nhân: Nguyễn Văn C; giới tính: Nam; năm sinh: 1971; Địa chỉ: xã P, huyện L, tỉnh B; nhập viện ngày: 05-12-2010; xuất viện ngày: 20-12-2010; hồ sơ bệnh án số: 1053450; lý do nhập viện: Ói ra máu; Bệnh sử: Người nhà khai bệnh nhân ói ra máu bầm, sau đó máu đỏ tươi khoảng 2 lít; tiền sử: Xơ gan, nghiện rượu; chẩn đoán sơ bộ lúc nhập viện: Xuất huyết tiêu hóa trên, mức độ nặng.

[8] Diễn tiến bệnh: 12h 25 phút ngày 05-12-2011 - Nhập khoa nội tiêu hóa khám chuẩn đoán: Xuất huyết tiêu hóa trên nghi do vỡ tĩnh mạch thực quản - Xơ gan, nghiện rượu. …

[9] Ngày 09-12 lúc 8 giờ bệnh nhân kích thích la hét, dãy dụa biểu hiện của hội chứng cai rượu. Ngày 09-12 lúc 10h mời khoa nội thần kinh hội chẩn: Bệnh nhân ngưng rượu một tuần, bệnh nhân tỉnh tiếp xúc được, không định hướng được không gian thời gian. Chẩn đoán: 1. Hội chứng cai rượu; 2. Xuất huyết tiêu hóa trên do vỡ tỉnh mạch thực quản; 3. Xơ gan…

[10] Chẩn đoán xác định: Xuất huyết tiêu hóa trên do dãn tĩnh mạch thực quản, xơ gan, nghiện rượu. … . Tình trạng khi ra viện: Bệnh tạm ổn định.

[11] Như vậy, kết quả thu thập chứng cứ tại Bệnh viện 115 là do Tòa án tiến hành theo đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, chứng cứ thu thập tại Bệnh viện 115 là từ bệnh án của bệnh nhân Nguyễn Văn C được lưu giữ tại bệnh viện, và khi Tòa án đề nghị thì bệnh viện sao lục từ hồ sơ lưu trữ bệnh án của bệnh nhân Nguyễn Văn C đã nhập viện và đã xuất viện từ ngày 20-12-2010. Do đó, kết quả thu thập tại bệnh viện là xác thực.

[12] Ông C ký hợp đồng bảo hiểm ngày 15-11-2010 đến ngày 05-12-2010 nhập viện, là sau 20 ngày ký hợp đồng bảo hiểm. Ông C nhập viện với tình trạng như bệnh án đã nêu và trong quá trình điều trị bệnh viện: “chẩn đoán xác định: Xuất huyết tiêu hóa trên do dãn tĩnh mạch thực quản, xơ gan, nghiện rượu”. Chứng tỏ khi ông C khai trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm trước khi nhập viện 20 ngày, ông C khai: “Người được bảo hiểm có uống rượu bia không? Ông Nguyễn Văn C khai: Có, thỉnh thoảng đi đám tiệc có uống vài ly rượu” là không trung thực vì ông C nghiện rượu được hiểu là người thường xuyên uống rượu dẫn đến nghiện rượu. Ông C khai trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm như vậy là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 3.1 của Hợp đồng bảo hiểm và Điều 18.2, Điều 19.1 Luật kinh doanh bảo hiểm. Do đó, Hợp đồng bảo hiểm số 100007035109008UL-A1 ngày 15-11-2010, giữa ông Nguyễn Văn C với Công ty Bảo hiểm nhân thọ A là hợp đồng vô hiệu do lỗi của ông Nguyễn Văn C. Bản án sơ thẩm đã xử là có căn cứ, phía nguyên đơn kháng cáo không xuất trình được chứng cứ nào khác, nên không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông nguyên đơn.

[13] Tại phiên tòa phúc thẩm luật sư Phạm Tất Th bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đề nghị triệu tập ông T và ông P là người ký tên trong hợp đồng bảo hiểm tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi liên quan, và đề nghị hủy án sơ thẩm là không cần thiết và không đúng quy định của pháp luật tố tụng nên không được chấp nhận.

[14] Về án phí: Bản án sơ thẩm buộc Công ty Bảo hiểm nhân thọ A phải chịu án phí trên số tiền hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H, cháu Nguyễn Thị Thanh T và cháu Nguyễn Tấn Đ, là không đúng. Tuy nhiên do các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị về phần này nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

Áp dụng khoản 1 Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Pháp lệnh về án phí, lệ phí của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

QUYẾT ĐỊNH:

Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.

Tuyên bố Hợp đồng bảo hiểm số 100007035109008UL-A1 ngày 15-11-2010, giữa ông Nguyễn Văn C và Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A là vô hiệu.  

Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A thanh toán số tiền bảo hiểm là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng và trách nhiệm do việc chậm thực hiện nghĩa vụ là 40.625.500 (bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm) đồng, tổng cộng là 540.625.500 đồng (năm trăm bốn mươi triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn năm trăm đồng).

ng ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H, cháu Nguyễn Thị Thanh T và cháu Nguyễn Tấn Đ (đại diện theo pháp luật của cháu T, cháu Đ: bà Nguyễn Thị H) số tiền 21.500.000 (hai mươi mốt triệu năm trăm ngàn) đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án không thi hành số tiền nói trên, thì phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng số tiền, thời gian chậm thi hành án.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Ngọc L phải chịu là 25.625.000 đồng (hai mươi lăm triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 12.077.500 đồng theo biên lai thu tiền số 06126, ngày 13-10-2011 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, ông Nguyễn Ngọc L còn phải nộp 13.547.500 đồng (mười ba triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Công ty TNHH Bảo hiểm nhân thọ A phải chịu là 1.075.000 đồng (một triệu bảy mươi lăm nghìn đồng).

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Ngọc L phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), được khấu trừ và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp l 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 05450, ngày 13-7-2012 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

NỘI DUNG ÁN LỆ:

“[12] Ông C ký hợp đồng bảo hiểm ngày 15-11-2010 đến ngày 05-12-2010 nhập viện, là sau 20 ngày ký hợp đồng bảo hiểm. Ông C nhập viện với tình trạng như bệnh án đã nêu và trong quá trình điều trị bệnh viện: “chẩn đoán xác định: Xuất huyết tiêu hóa trên do dãn tĩnh mạch thực quản, xơ gan, nghiện rượu”. Chứng tỏ khi ông C khai trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm trước khi nhập viện 20 ngày, ông C khai: “Người được bảo hiểm có uống rượu bia không? Ông Nguyễn Văn C khai: Có, thỉnh thoảng đi đám tiệc có uống vài ly rượu” là không trung thực vì ông C nghiện rượu được hiểu là người thường xuyên uống rượu dẫn đến nghiện rượu. Ông C khai trong hồ sơ yêu cầu bảo hiểm như vậy là vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại Điều 3.1 của Hợp đồng bảo hiểm và Điều 18.2, Điều 19.1 Luật kinh doanh bảo hiểm. Do đó, Hợp đồng bảo hiểm số 100007035109008UL-A1 ngày 15-11-2010, giữa ông Nguyễn Văn C với Công ty Bảo hiểm nhân thọ A là hợp đồng vô hiệu do lỗi của ông Nguyễn Văn C…”

 

 

Các bình luận

Gửi bình luận

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

Chịu trách nhiệm nội dung: Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học
Địa chỉ: Số 262 Đội Cấn, Q. Ba Đình, Tp. Hà Nội - Điện thoại: (04) 08048292 - Email: anle@toaan.gov.vn
© Bản quyền thuộc về Tòa án nhân dân tối cao.
Ghi rõ nguồn Trang điện tử án lệ (anle.toaan.gov.vn) khi đăng tải lại các thông tin, dữ liệu từ Trang này.

Số lượt truy cập: 453,951